NỘI DUNG VỤ ÁN
Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Theo Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyên đơn ông Quách Văn T trình bày: Ngày 27/11/2018, ông ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Trương Minh D1 và bà Lâm Trang Đ; Theo hợp đồng ông D1, bà Đ chuyển nhượng cho ông phần đất có diện tích 6.506m2, thuộc thửa số 366, tờ bản đồ số 10; đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Giá chuyển nhượng theo hợp đồng là 150.000.000 đồng, nhưng thực tế hai bên thống nhất giá chuyển nhượng là 175.000.000 đồng, ông đã giao trả cho ông D1, bà Đ đủ 175.000.000 đồng. Đối với phần đất trên ông được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 608549 ngày 03/12/2018, thửa đất số 366, tờ bản đồ số 10. Do phần đất trên (qua đo đạc thực tế là 6.890m2) ông Trương Văn A đang sử dụng nên ông yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trương Văn A phải trả lại cho ông. Trường hợp các hợp đồng chuyển nhượng có liên quan đến phần đất này vô hiệu thì ông yêu cầu Tòa án xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc ông D1 bà Trang Đ bồi thường thiệt hại. Ông Trương Văn A và người đại diện theo ủy quyền của ông A trình bày: Vào ngày 13/9/2017, ông A có hỏi vay của ông Dương Minh D số tiền 600.000.000 đồng, lãi suất 04%/tháng. Do ông A và ông D không quen biết nhau nên để làm tin ông D bắt ông A phải làm giả hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với diện tích 18.976m2, đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu mà không làm giấy biên nhận tiền vay; Khi nào ông A có tiền trả cho ông D thì ông D hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông A với ôngD 4 . Sau khi vay tiền của ông D thì ông A có trả lãi cho ông D với số tiền 72.000.000 đồng. Thời điểm làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì vợ ông A là bà Thạch Thị P1 nằm liệt giường, cán bộ phòng công chứng đến nhà lăn dấu vân tay bà P1 (có sự chứng kiến của bà L3 là người giới thiệu vay tiền). Thời điểm ông A ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông D thì đất có giá trị nhiều hơn 600.000.000 đồng nên không có chuyện ông A bán cho ông D phần đất trên với giá 600.000.000 đồng. Nay ông A yêu cầu Tòa án hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/9/2017 giữa ông A với ông Dương Minh D bà Lâm Trang Đ. Đối với số tiền vay ông A tự nguyện trả cho ông D, bà T2 Đài tiền vay là 600.000.000 đồng và trả lãi trên nợ gốc tính từ ngày 13/9/2017 với mức lãi suất 10%/năm.
Đại diện theo ủy quyền của bà Lâm Thị H trình bày: Ngày 27/11/2018, bà Lâm Thị H có nhận chuyển nhượng của ông Dương Minh D và bà Lâm Trang Đ một phần đất diện tích 1.241m2, tại thửa số 42, tờ bản đồ số 10 và phần đất có diện tích 11.229m2, tại thửa số 52, tờ bản đồ số 10. Giá chuyển nhượng theo hợp đồng là 500.000.000 đồng; Nhưng giá chuyển nhượng thực tế lên đến 1.500.000.000 đồng, bà H đã trả đủ cho ông D, bà Đ số tiền 1.500.000.000 đồng. Đối với 02 phần đất trên bà H được cấp quyền sử dụng đất số CP 608548, ngày 03/12/2018 (thửa số 52, tờ bản đồ số 10) và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CP 608547, ngày 03/12/2018 (thửa số 42, tờ bản đồ số 10). Do bà H là người thứ 3 chiếm hữu ngay tình nên đề nghị Tòa án buộc ông Trương Văn A trả lại phần đất trên cho bà Lâm Thị H. Trường hợp các hợp đồng chuyển nhượng có liên quan đến phần đất này vô hiệu thì bà H yêu cầu Tòa án xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu, buộc ông D bà Trang Đ bồi thường thiệt hại.
Ông Dương Minh D và bà Lâm Trang Đ, trình bày: Giữa ông, bà có mối quan hệ quen biết với ông Trương Văn A; Không có việc ông, bà cho ông A vay số tiền 600.000.000 đồng và ông A đã trả lãi 72.000.000 đồng; Thực tế vào ngày 13/9/2017, ông, bà có nhận chuyển nhượng của ông Trương Văn A, bà Thạch Thị P1 phần đất có diện tích 18.976m2, đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Việc chuyển nhượng đất giữa vợ chồng ông với ông A, bà P1 có lập hợp đồng, công chứng theo quy định. Nhưng thời điểm công chứng hợp đồng bà P1 không có mặt mà cán bộ công chứng đến nhà mà P1 để lăn dấu vân tay của bà P1, còn việc lăn tay thế nào ông, bà không biết.5 Đối với phần đất nhận chuyển nhượng của ông Trương Văn A và bà Thạch Thị P1 ông, bà đã chuyển nhượng lại cho ông Quách Văn T và bà Lâm Thị H. Do đó, ông, bà không đồng ý hủy hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất với ông Trương Văn A.
Ông Nguyễn Văn L4 (Nguyễn Văn Út L4) trình bày: Giữa ông và ông Trương Văn A có mối quan hệ bà con xa, năm 2010, ông có nhận chuyển nhượng của ông Trương Văn A 5,5 công đất với số tiền 100.000.000 đồng. Do ông A là người rất có uy tín nên giữa ông và ông A không làm giấy tờ mua bán; Phần đất trên là phần đất ông T yêu cầu ông A trả và ông cũng là người đang sử dụng phần đất trên. Hiện nay, ông không yêu cầu giải quyết đối với phần đất này, khi nào ông và ông A phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện sau. Bà Đào Mỹ L3 trình bày: Bà có thuê 06 công đất của ông Trương Văn A để nuôi tôm. Hiện nay, bà không có tranh chấp gì liên quan đến việc thuê đất giữa bà và ông A. Tòa xử đất cho ai thì bà trả cho người đó.
Ông Trần Văn T1 trình bày: Ông hoàn toàn không biết gì về việc phần đất tranh chấp giữa ông T và ông A (có diện tích 6.890m2) tại thửa số 194, tờ bản đồ số 10; đất đã được cấp quyền sử dụng đất cho ông tên Trần Văn T1. Phần đất này ông không sử dụng, vì không phải đất của ông nên ông không có ý kiến hay yêu cầu gì. Đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện H và đại diện theo ủy quyền của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B vắng mặt nên Tòa án không ghi lời khai. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 65/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu đã tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Quách Văn T về việc yêu cầu ông Trương Văn A giao trả phần đất có diện tích 6.890m2. thuộc thửa đất số 366, tờ bản đồ số 10; đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Lâm Thị H về việc yêu cầu ông Trương Văn A giao trả phần đất 1.241m2, tại thửa số 42, tờ bản đồ số 10 và phần đất 11.229m2, thuộc thửa số 52, tờ bản đồ số 10; đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Trương Văn A: Tuyên bố các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất sau đây vô hiệu:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ngày 27/11/2018, số công chứng 319, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD của Phòng Công chứng Trần Thanh B1 được ký kết giữa ông Dương Minh D, bà Lâm Trang Đ với ông Quách Văn T đối với phần đất có diện tích 6.506m2, thuộc thửa số 366, tờ bản đồ số 10; đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.6
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 27/11/2018, số công chứng 320, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C được ký kết giữa ông Dương Minh D, bà Lâm Trang Đ với bà Lâm Thị H đối với phần đất có diện tích 1.241m2, tại thửa số 42, tờ bản đồ số 10 và phần đất có diện tích có diện tích 11.229m2, tại thửa số 52, tờ bản đồ số 10; đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 13/9/2017, số công chứng 3962, Quyển số 03TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C1 được ký kết giữa ông Trương Văn A, bà Thạch Thị P1 với ông Dương Minh D, bà Lâm Trang Đ đối với phần đất có diện tích 18.976m2 thuộc các thửa số 42-1; 42-2; 52 và thửa 366 tờ bản đồ số 10; đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Ông Trương Văn A có quyền đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai xin cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Buộc ông Dương Minh D, bà Lâm Trang Đ có nghĩa vụ trả cho ông Quách Văn T số tiền 259.750.000 đồng (Trong đó: 175.000.000 đồng trả lại do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và bồi thường thiệt hại số tiền 84.750.000 đồng).
- Buộc ông Dương Minh D, bà Lâm Trang Đ có nghĩa vụ trả cho bà Lâm Thị H số tiền 533.560.000 đồng (Trong đó: 500.000.000 đồng trả lại do hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vô hiệu và bồi thường thiệt hại số tiền 33.560.000 đồng).
- Ghi nhận sự tự nguyện của đại diện theo ủy quyền của ông Trương Văn A. Buộc ông Trương Văn A có nghĩa vụ trả cho ông Dương Minh D và bà Lâm T2 đài 1.017.158.000 đồng (Trong đó, gốc là 600.000.000 đồng, lãi là 417.158.000 đồng) Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp theo Quyết định số 81/99/QĐUB của ủy ban nhân dân huyện V cấp cho ông Trần Văn T1 đối với thửa số đất số 194 tờ bản đồ số 10. Đất tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.7 Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật. Ngày 17/9/2024, Toà án nhân dân tỉnh Bạc Liêu nhận được đơn kháng cáo của bà Lâm Thị H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Toà án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng bảo vệ người thứ ba ngay tình, chấp nhận yêu cầu độc lập của bà. Trường hợp đủ căn cứ tuyên vô hiệu Hợp đồng chuyển nhượng thì đề nghị xem mức độ lỗi và giá để bồi thường. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông S đại diện cho bà Lâm Thị H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là đề nghị sửa án sơ thẩm. Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, các đương sự không tự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án. Ông S đại diện cho bà Lâm Thị H trình bày: Bà H kháng cáo mục 2,3 của Quyết định án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập của bà H. Trong trường hợp tuyên hợp đồng vô hiệu, xem xét giá bồi thường và mức độ lỗi. Biên bản định giá năm 2020, giá so với năm 2024 không phù hợp. Có 3 loại đất là đất ở, trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản. Lỗi của ông D, bà Đ toàn bộ, căn cứ trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thực tế diễn ra. Ông D trình bày: Ông thừa nhận nhận của bà H 950.000.000 đồng, file ghi âm và định giá của bà H đưa ra ông không thắc mắc, yêu cầu gì. Ông S đại diện cho bà Lâm Thị H trình bày: Ông D thừa nhận nhận của bà H 950.000.000 đồng, để nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về giải quyết hậu quả Hợp đồng vô hiệu, Hội đồng xét xử xem xét, cấp sơ thẩm áp dụng 50.000 đồng/m2 không phù hợp. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có 3 loại đất là đất ở, trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thuỷ sản. Khi định giá, bà H chưa được tham gia tố tụng để có ý kiến về giá. Bà H không thể có ý kiến phản bác, giá phi lý so với giá thị trường. Giá cách hơn 2-3 năm. Ngân hàng thẩm định cho ông A vay, giá đã 1.200.000.000 đồng. Ông có nộp chứng thư thẩm định giá để Toà xem xét, có đặt ra ở cấp sơ thẩm nhưng không được xem xét. Toà án cấp phúc thẩm có uỷ thác để làm việc với ông D về đoạn ghi âm và Chứng thư thẩm định giá thì ông D không có phản đối. Hội đồng căn cứ Chứng thư dựa vào đất thực tế xem xét giá trị bồi thường, lỗi của ông D toàn bộ. Diện tích theo Giấy chứng nhận là 12.470m2, đo đạc thực tế là 11.342,4m2. Ông đồng ý lấy giá đất ở 300m2 với giá 727.000 đồng/m2; đất còn lại 11.042,4m2 giá 477.000 đồng/ m2. Ông P đại diện cho ông A trình bày: Ông A là anh rể của ông. Ông A bị nợ xấu của Ngân hàng, vay mượn tiền của ông D. Bản án sơ thẩm đã làm rất rõ, không có việc mua bán. Ông D chuyên cho vay. Ông D trình bày: Ông mua đất của ông A, chuyển nhượng 600.000.000 đồng. Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét ông và bà H đều có lỗi, đề nghị Hội đồng xem xét. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà H trình bày: Thống nhất giá trị bà H đưa ông D và ông D thừa nhận là 950.000.000 đồng. Chứng thư thẩm8 định giá, ông D không có ý kiến. Trách nhiệm hợp đồng vô hiệu thiệt hại xảy ra, lỗi hoàn toàn của ông D. Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nội dung: Xét kháng cáo của bà Lâm Thị H. có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bà H. Đ
Tải bản án:Bản án: 708/2025/DS-PT
Nguồn: Công bố bản án

