Bản án số: 11/2025/DS-PT Ngày: 20 – 3 – 2025 V/v: “Yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu và chia thừa kế theo pháp luật; Yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

Bản án số: 11/2025/DS-PT Ngày: 20 - 3 - 2025 V/v: “Yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu và chia thừa kế theo pháp luật; Yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
V/v: “Yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu và chia thừa kế theo pháp luật; Yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp và yêu cầu công
nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

[1] Về thủ tục tố tụng

[1.1] Ngày 09/10/2024, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là bà Trần Thị Như M nộp đơn kháng cáo trong thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, đơn kháng cáo được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[1.2] Người thừa kế thế vị của bà Trần Thị Như Á là ông Đỗ Minh N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân xã N có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông N và Ủy ban nhân dân xã N.

[1.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, không rút yêu cầu kháng cáo. Các bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

[2] Quan hệ pháp luật cần giải quyết

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết của vụ án là: “Yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu và yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật; Yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp và công nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất” là có căn cứ.

[3] Về nội dung

Xét yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Như M là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không đồng ý nhận giá trị của 01 kỷ phần thừa kế tương ứng số tiền 332.689.200 đồng, mà yêu cầu được nhận kỷ phần thừa kế ông Trần X được hưởng bằng hiện vật là 50,8 m² đất nằm ở phía Bắc của phần diện tích 254 m² của cụ Tô Thị G để lại, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[3.1]

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự bên nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận nguồn gốc diện tích 302 m² đất tại thửa số 61, tờ bản đồ địa chính số 32-4 (chỉnh lý từ một phần của thửa đất số 42, tờ bản đồ số 4), tọa lạc tại thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận, thuộc một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số D0767982 ngày 15/6/1996 cấp cho ông Trần X là di sản của cụ Tô Thị G theo Quyết định công nhận kết quả hòa giải thành số 26/QĐ-HGT ngày 07/6/2004 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải.

Tài sản trên đất gồm: nhà cấp 4, các mái hiên, 02 giếng nước, nền xi măng và cây trồng (01 cây me, 04 cây mãng cầu) là do cụ Tô Thị G tạo lập. Riêng căn nhà số 2 là tài sản của bà M1 và ông N1.

Phía nguyên đơn chỉ yêu cầu chia thừa kế đối với quyền sử dụng 254 m² đất, không yêu cầu chia 48 m² đất của vợ chồng ông N1, bà M1; không yêu cầu chia tài sản trên đất và đồng ý giao toàn bộ tài sản trên đất do cụ G tạo lập cho bị đơn.

[3.2] Chia di sản thừa kế đối với diện tích đất 254 m²

[3.2.1] Cụ G chết năm 2017, có 05 người con thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm: ông X, ông D, bà H3, ông P2 và ông P1.

Trong đó:

  • Ông P2 chết năm 2004 trước cụ G nên các con của ông P2 được hưởng thừa kế thế vị.
  • Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, ông X chết năm 2023 nên vợ và các con, cháu của ông X là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông X trong vụ án.
  • Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, ông P1 chết năm 2024 nên vợ và các con của ông P1 là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P1 và được nhận phần thừa kế của ông P1.

[3.2.2] Cấp sơ thẩm chia thừa kế cho 05 người con của cụ G, mỗi kỷ phần được hưởng 50,8 m² (254 m² : 5) là đúng pháp luật.

Theo Chứng thư định giá số 205/2024/THBMVV-623 ngày 22/8/2024 của Công ty Cổ phần T7 Ban Mê, giá trị đất tranh chấp là 6.549.000 đồng/m².

Tổng diện tích đất chia thừa kế có giá trị 1.663.446.000 đồng (254 m² × 6.549.000 đồng/m²).

Mỗi kỷ phần có giá trị 332.689.200 đồng (1.663.446.000 đồng : 5).

[3.3]

Các ông, bà D, H3 và các con của ông P2 đều đồng ý tặng cho kỷ phần của mình được nhận cho ông P1 và ông P1 cũng đồng ý nhận. Xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự nên được ghi nhận.

Theo đó, ông P1 được nhận 04 kỷ phần, tương ứng 203,2 m², trị giá 1.330.756.800 đồng.

Các đồng thừa kế của ông Trần X được nhận chung 50,8 m², tương đương 332.689.200 đồng.

[3.4]

Ông P1 là người đã sống cùng và chăm sóc cụ G từ khi còn nhỏ đến khi cụ qua đời; là người thờ cúng cha mẹ và đây cũng là nơi sinh sống duy nhất của ông P1 cùng gia đình.

Phần ông P1 thực tế được nhận (bao gồm phần của ông P1 và phần được tặng cho) là 04 kỷ phần, trong khi gia đình ông X chỉ được nhận 01 kỷ phần.

[3.5]

Diện tích nguyên đơn yêu cầu chia thừa kế đã được công nhận cho cụ G là đất nông nghiệp. Nếu chia cho gia đình ông X 50,8 m² thì diện tích còn lại 203,2 m² không bảo đảm diện tích tối thiểu để tách thửa đất nông nghiệp theo quy định tại Quyết định số 84/QĐ-UBND ngày 21/10/2024 của UBND tỉnh N.

Bản án sơ thẩm giao toàn bộ 254 m² đất cho ông P1 và buộc ông P1 có nghĩa vụ hoàn trả cho các đồng thừa kế của ông X giá trị 01 kỷ phần (50,8 m²)332.689.200 đồng, thay vì chia bằng hiện vật, là có căn cứ.

Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Như M.

[3.6]

Tại phiên tòa phúc thẩm, phía nguyên đơn yêu cầu định giá lại diện tích đất tranh chấp.

Xét thấy, tại giai đoạn sơ thẩm, phía nguyên đơn là người yêu cầu thẩm định giá độc lập và không khiếu nại về kết quả thẩm định giá. Sau khi xét xử sơ thẩm, nguyên đơn cũng không kháng cáo về giá.

Do đó, Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu định giá lại.

[3.7]

Trong giai đoạn phúc thẩm, ông Trần P1 chết nên những người thừa kế hàng thứ nhất của ông gồm bà Phạm Thị L và các con là Trần Thị M1, Trần Thị H2, Trần Văn T3 được nhận phần di sản của ông P1 và có nghĩa vụ thanh toán giá trị kỷ phần thừa kế cùng chi phí tố tụng cho phía nguyên đơn.

[4] Kết luận

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm:

  • Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Trần Thị Như M;
  • Chấp nhận toàn bộ ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa;
  • Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Các phần khác của bản án không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về chi phí tố tụng và án phí

[5.1] Chi phí đo đạc, định giá

Chi phí đo đạc, định giá tài sản là 3.343.000 đồng. Mỗi bên phải chịu một nửa. Phía bị đơn có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn 1.671.500 đồng.

[5.2] Chi phí giám định

Chi phí giám định tại Công an tỉnh N là 6.480.000 đồng.

  • Phía nguyên đơn phải chịu 3.600.000 đồng chi phí giám định dấu vân tay do không xác định được kết quả.
  • Chi phí giám định chữ viết là 2.880.000 đồng, do kết quả xác định chữ viết là của ông Trần P1 nên phía bị đơn phải hoàn trả khoản chi phí này cho nguyên đơn.

[5.3] Án phí

Án phí dân sự sơ thẩm

  • Bà Trần Thị H được miễn 2.376.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (đã làm tròn).
  • Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn gồm: Trần Thị Như M, Trần T, Trần P, Trần T1, Trần Văn H1 và Đỗ Minh N phải chịu 14.258.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với giá trị phần tài sản được nhận sau khi đã trừ phần án phí của bà H.
  • Phía bị đơn phải chịu 30.611.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với giá trị phần tài sản được nhận và phần tài sản do những người thừa kế thế vị của ông Trần Văn P2 (gồm Trần Thị Anh T4, Trần Thị Kim H4 và Trần Thị Kim P3) tặng cho.
  • Ông D và bà H3 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

Án phí dân sự phúc thẩm

Do không chấp nhận kháng cáo nên bà Trần Thị Như M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.

Tải bản án: Bản án số: 11/2025/DS-PT Ngày: 20 – 3 – 2025 V/v: “Yêu cầu tuyên bố di chúc vô hiệu và chia thừa kế theo pháp luật; Yêu cầu công nhận di chúc hợp pháp và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất; Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất

Liên hệ ngay với chúng tôi nếu bạn đang cần hỗ trợ pháp lý, hãy liên hệ ngay với Công ty Luật Việt Nguyên ngay bây giờ để được tư vấn và giải quyết vướng mắc pháp lý  cách chuyên nghiệp và hiệu quả nhất. Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cung cấp cho bạn những giải pháp, pháp lý tốt nhất để đảm bảo quyền lợi của bạn.

Kết nối với Việt Nguyên – An tâm vững bước
Liên hệ ngay để được tư vấn 1:1 cùng chuyên gia:

📞 Hotline: 0936.39.29.79 – 0937.67.69.69

📍 Trụ sở chính: Số 41 Cách Mạng Tháng Tám, phường Long Khánh, Tp. Đồng Nai.

📍 Chi nhánh: Số 23 Nguyễn Du, P. Trấn Biên, Tp. Đồng Nai.

📘 Facebook: Công ty Luật Việt Nguyên

🌐 web: https://luatsudongnai.org/

✉️ Email: luatsutrangiap@gmail.com | 💬 Zalo: 0937.67.69.69 – 0936.39.29.79

Việt Nguyên – Nơi công lý được hiện thực hóa bằng tâm huyết và tri thức!