NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM
Vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền thoát nước và bồi thường thiệt hại
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, ý kiến của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên, Tòa án nhận định như sau:
1. Về thủ tục tố tụng
- Kháng cáo: Bị đơn Phạm Văn N thực hiện quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, đúng quy định tại các Điều 271, 272, 273 và khoản 2 Điều 276 Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS). Vụ án được giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Người tham gia tố tụng:
- Nguyên đơn Huỳnh Văn T ủy quyền cho bà Nguyễn Thị C.
- Ông Phạm Văn B, chị Đoàn Thị Tr, Phạm Thị Huyền Tr ủy quyền cho anh Phạm Văn N.
- Anh Phạm Văn N là người đại diện theo pháp luật cho Phạm Duy T.
- Việc ủy quyền và đại diện đều đúng quy định tại Điều 85, 86 BLTTDS và Điều 136 Bộ luật Dân sự.
- Đương sự vắng mặt: Các đương sự Phạm Văn Đ, Nguyễn Thị Ph, Phạm Chí Th được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Tòa án xử vắng mặt theo khoản 3 Điều 296 BLTTDS.
2. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền
Tòa án xác định tranh chấp liên quan đến:
- Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất (CN QSDĐ).
- Quyền thoát nước qua bất động sản liền kề.
- Bồi thường thiệt hại về tài sản.
Các tranh chấp này thuộc thẩm quyền và phạm vi xem xét giải quyết của Tòa án theo quy định tại các Điều 4, 5, 26 BLTTDS; các Điều 11, 13, 116, 117, 159, 160, 164, 170, 245, 246, 248, 252, 401, 500, 501, 502, 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự; và các Điều 105, 107, 136 Luật Đất đai 2003; Điều 166, 170, 171, 203 Luật Đất đai 2013.
3. Nội dung tranh chấp và diễn biến vụ án
- Hợp đồng chuyển nhượng: Ngày 02/7/2007, các bên lập hợp đồng CN QSDĐ diện tích 134m² (thực tế xác định 149,8m²) với giá 111.500.000 đồng (thực tế 110.000.000 đồng). Hợp đồng được UBND xã L chứng thực ngày 28/02/2008.
- Thực hiện hợp đồng: Anh T đã giao tiền, ông B đã giao đất. Tuy nhiên, ông B không giao Giấy chứng nhận QSDĐ để anh T đăng ký tách thửa.
- Phát sinh tranh chấp: Ngày 01/5/2020, ông B ngăn hệ thống dẫn nước thải từ nhà anh T qua đất ông B ra sông, gây ngập úng.
- Yêu cầu khởi kiện: Anh T yêu cầu công nhận hợp đồng, buộc giao giấy CN QSDĐ, buộc cho mở đường thoát nước (10,8m²) và bồi thường 2.000.000 đồng. Trong quá trình phúc thẩm, anh T rút yêu cầu giao giấy CN QSDĐ.
- Quan điểm bị đơn: Ông B và anh N đồng ý chuyển nhượng đất nhưng không đồng ý yêu cầu bồi thường và mở đường thoát nước.
4. Giải quyết yêu cầu kháng cáo
a) Về hợp đồng chuyển nhượng đất: Tòa án cấp sơ thẩm đã công nhận hợp đồng CN QSDĐ diện tích 149,8m² thuộc thửa 488 tờ bản đồ số 9 là đúng pháp luật.
b) Về quyền thoát nước:
- Nhận định: Việc anh T yêu cầu đường thoát nước thải sinh hoạt qua bất động sản liền kề là hợp lý và chính đáng. Phần đất anh T nhận chuyển nhượng đã xây dựng nhà ở hoàn chỉnh, không còn đất xây hố gas tự hoại.
- Diện tích: Anh T yêu cầu 10,8m² (5,4m x 2m), Tòa sơ thẩm chấp nhận 5,4m² (5,4m x 1m) bằng chiều ngang nhà. Đây là diện tích cần thiết để xây hầm chứa nước thải tự hoại, phù hợp với Điều 252 BLDS 2015.
- Kết luận: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Phạm Văn N về việc giảm diện tích đường thoát nước.
c) Về việc xây dựng tường ngăn (Vi phạm án sơ thẩm):
- Sau khi án sơ thẩm xét xử, hộ ông B và anh N đã xây dựng bức tường (cao 3,5m, dài 5,6m) ngăn chặn phần đất được giao cho anh T làm hệ thống thoát nước thải.
- Việc này trái với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 12/2020/QĐ-ADBPKCTT.
- Xử lý: Buộc gia đình anh N phải tháo dỡ bức tường xây dựng trái phép.
5. Về án phí dân sự và biện pháp khẩn cấp tạm thời
- Án phí sơ thẩm:
- Ông Phạm Văn B được miễn án phí do là người cao tuổi (đúng quy định).
- Sửa đổi: Tòa sơ thẩm chưa buộc chị Phạm Thị Mỹ N cùng liên đới chịu án phí là thiếu sót.
- Điều chỉnh: Anh T phải chịu thêm 5% án phí cho phần nghĩa vụ đền bù giá trị đất và cây trồng cho hộ ông B (tương ứng 703.700 đồng).
- Biện pháp khẩn cấp tạm thời:
- Tại phúc thẩm, người đại diện của anh T yêu cầu hủy bỏ Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 12/2020/QĐ-BPKCTT.
- Xử lý: Tòa án hủy bỏ biện pháp này và cho anh T nhận lại tài sản bảo đảm theo quy định tại Điều 138, 139 BLTTDS.
6. Kết luận chung
- Các phần khác của án sơ thẩm xử có căn cứ đúng pháp luật, không có kháng cáo, kháng nghị được giữ nguyên.
- Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án đã nhận định.
Tải bản án: Bản án số: 111/2022/DS-PT Ngày: 20/5/2022
Nguồn: Công bố bản án

