Bản án số: 24/2019/DS – ST Ngày: 10 – 5 – 2019 V/v tranh chấp “yêu cầu về mở lối đi qua bất động sản liền kề”

tranh chấp “yêu cầu về mở lối đi qua bất động sản liền kề”

NỘI DUNG VỤ ÁN TRANH CHẤP “YÊU CẦU VỀ MỞ LỐI ĐI QUA BẤT ĐỘNG SẢN LIỀN KỀ”

1. Trình bày của Nguyên đơn (Anh Nguyễn Trung Th)

Trong đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung ngày 01/4/2019 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn trình bày:

  • Thông tin thửa đất: Anh Nguyễn Trung Th đứng tên quyền sử dụng đất thửa số 17, tờ bản đồ địa chính số 13, diện tích: 3.315,6m², địa chỉ: ấp Phú Hòa 2, xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
  • Tình trạng đất: Thửa đất này bị vây bọc bởi 2 thửa đất số 14 và thửa 25, tờ bản đồ địa chính số 13 của ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị S (vợ của ông Nguyễn Văn T).
  • Nguồn gốc lối đi: Thửa đất 17 của anh Th có nguồn gốc từ của ông bà để lại, thửa đất có lối đi lâu năm có từ năm 1980, qua phần đất thửa 14 của ông Nguyễn Văn T.
  • Diễn biến tranh chấp:
    • Anh Th có qua hỏi ông Nguyễn Văn T xin nhượng lại lối đi này cho anh, nhưng khi đó ông Nguyễn Văn T bảo: “lối đi đó xưa nay đi thì cứ đi chứ không bán”.
    • Tin tưởng vào lời khẳng định trên, anh Th đã tiến hành cải tạo đất để trồng cây ăn quả và xây nhà ở.
    • Sau khi xây nhà xong thì anh Nguyễn Quốc H (con ruột ông Nguyễn Văn T) đến trồng hàng cây ngay giữa lối đi trên.
    • Anh Th đến hỏi ông T thì được ông trả lời rằng: “thửa đất 14 này ông đã cho anh H và giờ anh H muốn làm gì thì làm ông không có quyền nữa”.
  • Yêu cầu khởi kiện:
    • Yêu cầu ông Nguyễn Văn T di dời hàng rào kẽm gai, mở cho anh một lối đi ra đường công cộng có chiều ngang 1,5m, chiều dài từ thửa đất 17 của anh qua thửa đất số 14 của ông T ra đến đường công cộng theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 26/02/2019 có diện tích lối đi là 38m².
    • Phần đất lối đi tại thửa số 14, tờ bản đồ địa chính số 13, loại đất trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp Phú Hòa 2, xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do ông Nguyễn Văn T đứng tên quyền sử dụng đất.
  • Thỏa thuận bồi hoàn:
    • Phần lối đi chung mà anh Th và ông X xin được mở lối đi qua đất của ông T, anh Th và ông X thỏa thuận: anh Th sẽ bồi hoàn cho ông T 2/3, ông X bồi hoàn 1/3 trong tổng số 38m² xin mở lối đi của ông T.
    • Phần diện tích lối đi trên anh Th tự nguyện bồi hoàn cho ông T 2/3 diện tích là 25,34m² với số tiền 500.000đồng/m². Tổng cộng số tiền anh Th bồi hoàn cho ông T số tiền là 12.670.000đồng và 510.000đồng tiền bồi hoàn giá trị cây trồng trên đất, nhưng anh Th đồng ý trả cho ông T tròn số là 15.000.000đồng (mười lăm triệu đồng).
    • Phần diện tích lối đi còn lại 1/3 với diện tích là 12,67m² thì ông Từ Văn X có trách nhiệm bồi hoàn cho ông T giá trị phần đất của lối đi do ông X cũng có yêu cầu mở lối đi chung với lối đi của anh Th.
  • Chi phí: Đối với chi phí đo đạc, định giá, xem xét thẩm định tại chỗ anh Th tự nguyện nộp toàn bộ. Anh Th tự nguyện nộp toàn bộ tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

2. Yêu cầu độc lập của Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (Ông Từ Văn X)

Ông Từ Văn X trình bày:

  • Thông tin thửa đất: Ông có phần đất thửa 24, tờ bản đồ số 13, diện tích 661,4m², loại đất trồng cây lâu năm. Phần đất tọa lạc tại ấp Phú Hòa 2, xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
  • Tình trạng lối đi: Phần đất của ông nằm phía sau phần đất thửa 14 của ông Nguyễn Văn T. Từ trước đến hiện nay, ông đi nhờ qua thửa đất số 14 của ông T để vào phần đất của ông. Nằm phía sau phần đất của ông T còn có phần đất của anh Th, phần đất của anh Th giáp ranh với phần đất của ông.
  • Yêu cầu:
    • Ông X yêu cầu ông Nguyễn Văn T di dời hàng rào dây kẽm gai mở cho ông lối đi chung với lối đi của anh Th chiều ngang 1,5m, chiều dài từ giáp thửa 17 của anh Th và thửa 24 của ông ra đến đường công cộng có diện tích theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 26/02/2019 diện tích lối đi là 38m².
    • Phần đất lối đi tại thửa đất số 14, tờ bản đồ số 13 loại đất trồng cây lâu năm do ông Nguyễn Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
  • Thỏa thuận bồi hoàn:
    • Phần lối đi chung mà ông và anh Th xin được mở lối đi qua đất của ông T, ông và anh Th thỏa thuận: ông sẽ bồi hoàn cho ông T 1/3 giá trị, anh Th bồi hoàn 2/3 giá trị trong tổng số 38m² xin mở lối đi từ ông T.
    • Phần diện tích lối đi ông X tự nguyện bồi hoàn cho ông T 1/3 phần diện tích lối đi là 12,67m² với giá 1.300.000đồng/m².
    • Tổng cộng số tiền ông X tự nguyện bồi hoàn cho ông T số tiền là 16.471.000đồng.
  • Chi phí: Ông X tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí Dân sự sơ thẩm.

3. Trình bày của Người đại diện hợp pháp cho Bị đơn (Anh Nguyễn Quốc H)

Anh Nguyễn Quốc H là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đồng thời là người đại diện hợp pháp cho bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị S trình bày:

  • Thông tin đất đai của bị đơn:
    • Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị S là vợ chồng, ông T đứng tên quyền sử dụng đất thửa số 14, tờ bản đồ số 13, diện tích 334,5m², loại đất CLN, và thửa số 25, diện tích 9.128,9m², loại đất CLN, tọa lạc ấp Phú Hòa 2, xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.
    • Hiện nay giấy chứng nhận QSDĐ của ông T và bà S đang thế chấp tại Ngân hàng NHNN và PTNTVN – Chi nhánh huyện LH – Phòng giao dịch HN.
  • Tình trạng thửa đất số 14:
    • Hiện nay thửa đất số 14, diện tích 334,5m², loại đất CLN, ông T và bà S đã tặng cho anh Nguyễn Quốc H, nhưng do giấy chứng nhận QSDĐ đang thế chấp tại ngân hàng nên chưa làm thủ tục sang tên.
    • Hiện nay phần đất này do anh H đang canh tác, trên đất trồng cây nhãn và ổi khoảng 2 năm.
    • Phần đất thửa số 14 là phần đất cặp với đường công cộng, từ trước đến nay phần đất này không có đường đi, chỉ là mương, nên anh đã san lắp lại vào năm 2005 để trồng chôm chôm.
  • Lịch sử lối đi:
    • Hiện nay, trên đất trồng nhãn và ổi trồng khoảng 2 năm, giáp với thửa 14 là thửa 17 của anh Th, trước đây thửa 17 là của ông Nguyễn Minh Tùng (cha ruột anh Th) chỉ là đất vườn.
    • Lối đi mà ông Tùng sử dụng là lối đi qua thửa số 25 của ông T để qua thửa đất của ông Tùng (thửa này giáp với đường công cộng).
    • Đến năm 2017, anh Th về cất nhà trên thửa 17. Vì là bà con nên lúc đầu ông T có cho đi nhờ trên thửa số 14 để vận chuyển vật tư cho thuận tiện, chứ không cho đi vĩnh viễn.
    • Sau khi anh Th cất nhà xong, nên ông T rào kẽm gai lại để bảo vệ vườn không cho đi, vì trước đây để vào thửa 17 đã có lối đi rồi.
    • Ông Từ Văn X cũng đi nhờ trên phần đất thửa 14 của ông T để vào phần đất của ông X.
  • Ý kiến giải quyết:
    • Ông Nguyễn Văn T đồng ý tháo dở hàng rào dây kẽm gai, dành cho anh Th và ông X một lối đi chung chiều ngang 1,5m, chiều dài từ giáp thửa 17 của anh Th và thửa 24 của ông X ra đến lộ công cộng theo trích đo bản đồ địa chính khu đất ngày 26/02/2019 có tổng diện tích là 38m², phần đất lối đi tại thửa 14, tờ bản đồ số 13, diện tích 334,5m², loại đất CLN do ông Nguyễn Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
    • Đồng thời, yêu cầu anh Th và ông X phải bồi hoàn giá trị phần đất và cây trồng trên lối đi trên với số tiền là 200.000.000đồng (hai trăm triệu đồng).
    • Nếu anh Th và ông X không đồng ý trả giá trị phần lối đi với số tiền 200.000.000đồng thì ông T không đồng ý mở lối đi cho anh Th và ông X.

4. Ý kiến của Ngân hàng

Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng NN và PTNTVN: anh Trần Quốc T có văn bản trình bày ý kiến như sau:

  • Ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị S có vay của Ngân hàng NN và PTNTVN – Phòng giao dịch HN số tiền 80.000.000đ theo Hợp đồng tín dụng số 7304-LAV-201807535, ngày vay 13/12/2018, hạn trả 13/12/2019.
  • Thế chấp tài sản có phần đất thửa số 14, tờ bản đồ số 13, diện tích 334.5m², loại đất trồng cây lâu năm tọa lạc tại ấp Phú Hòa 2, xã Đồng Phú, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long theo hợp đồng thế chấp tài sản số: 7304LCL201604620 ngày 25/11/2016 và Phụ lục hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 7304LCL201604620 ngày 04/12/2017.
  • Ngân hàng NN và PTNTVN không có ý kiến gì về vụ việc anh Th yêu cầu mở lối đi trên thửa đất số 14 của ông Nguyễn Văn T, xin được xét xử vắng mặt.

5. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ

5.1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng

  • Trong thời gian chuẩn bị xét xử:
    • Đây là vụ án tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại Điều 26, Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
    • Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 203 BLTTDS năm 2015.
    • Việc xác định tư cách những người tham gia tố tụng đúng theo quy định tại Điều 68 BLTTDS.
    • Việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định tại Điều 96, 97 BLTTDS.
    • Thời hạn chuẩn bị xét xử được đảm bảo đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Tại phiên tòa:
    • Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
  • Người tham gia tố tụng:
    • Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại các Điều 70, 71, 72, 73 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.

5.2. Ý kiến về việc giải quyết vụ án

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng quy định tại các Điều 170, 171 Luật Đất đai năm 2013; Điều 245, 246, 254 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 157 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Trung Th và ông Từ Văn X, buộc ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị S và anh Nguyễn Quốc H dành lối đi cho anh Th và ông X trên thửa đất số 14, chiều ngang 1,5m, chiều dài diện tích theo trích đo tổng cộng 38m².
  • Về bồi hoàn:
    • Anh Th phải bồi hoàn giá trị đất và cây trồng trên đất cho ông T, bà S và anh Huy là 15.000.000đ.
    • Buộc ông T, bà Sáu và anh H đốn bỏ 01 cây nhãn 02-03 năm; 01 cây nhãn 05-06 năm; 03 cây chuối cao trên 01m; tháo dở và di dời hàng rào dây kẽm gai bề ngang 1.5m.
    • Ông Từ Văn X phải bồi hoàn giá trị đất cho ông T, bà S và anh H 16.471.000đ.
  • Đăng ký quyền hạn chế: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền và nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng hạn chế thửa đất liền kề theo quy định tại Điều 95 và Điều 171 Luật Đất đai.
  • Về chi phí đo đạc, định giá và thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn tự nguyện chịu và đã nộp xong nên ghi nhận sự tự nguyện.
  • Về án phí:
    • Án phí không giá ngạch là 300.000đ, bị đơn phải chịu nhưng ông X tự nguyện nộp thay nên ghi nhận sự tự nguyện. Ông X phải nộp 300.000đ tiền án phí.
    • Án phí có giá ngạch: Ông X phải chịu 832.000đ nhưng ông X là người cao tuổi nên được miễn. Anh Th phải nộp 750.000đ.

      Liên hệ ngay với chúng tôi nếu bạn đang cần hỗ trợ pháp lý, hãy liên hệ ngay với Công ty Luật Việt Nguyên ngay bây giờ để được tư vấn và giải quyết vướng mắc pháp lý liên quan đến kiện đòi tài sản một cách chuyên nghiệp và hiệu quả nhất. Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cung cấp cho bạn những giải pháp, pháp lý tốt nhất để đảm bảo quyền lợi của bạn.

      Kết nối với Việt Nguyên – An tâm vững bước
      Liên hệ ngay để được tư vấn 1:1 cùng chuyên gia:

      📞 Hotline: 0936.39.29.79 – 0937.67.69.69

      📍 Trụ sở chính: Số 41 Cách Mạng Tháng Tám, phường Long Khánh, T. Đồng Nai.

      📍 Chi nhánh: Số 23 Nguyễn Du, P. Trấn Biên, T. Đồng Nai.

      📘 Facebook: Công ty Luật Việt Nguyên

      🌐 web: https://luatsudongnai.org/

      ✉️ Email: luatsutrangiap@gmail.com | 💬 Zalo: 0937.67.69.69 – 0936.39.29.79

      Việt Nguyên – Nơi công lý được hiện thực hóa bằng tâm huyết và tri thức!