Nội Dung Vụ Án Yêu Cầu Tuyên Bố Hợp Đồng Chuyển Nhượng Quyền Sử Dụng Đất Và Văn Bản Thỏa Thuận Phân Chia Tài Sản Chung Của Hộ Gia Đình Vô Hiệu
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Vào năm 2020, bà L có khởi kiện ông Đào Hữu H yêu cầu ông H phải trả bà L số tiền đã vay là 300.000.000đ. Đến ngày 10/07/2020, tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài đã thụ lý giải quyết theo thông báo thụ lý số 124/2020/TLST-DS. Sau đó vào ngày 17/07/2020, bà L và ông H đã thỏa thuận được tại tòa án và tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 48/2020/QĐST-DS ngày 27 tháng 7 năm 2020; 49/2020/QĐST-DS ngày 27 tháng 7 năm 2020 của Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Tuy nhiên, đã hết hạn trả nợ ông H không thực hiện đúng như thỏa thuận tại tòa án, do đó bà L đã có đơn yêu cầu thi hành án gửi đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài. Chi cục THADS thành phố Đ ra Quyết định thi hành án số 32/QĐ-CCTHADS ngày 05 tháng 10 năm 2020; quyết định số 46/QĐ-CCTHADS ngày 07 tháng 10 năm 2020 của Chi cục trưởng – Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài. Theo các Quyết định nêu trên buộc ông Đào Hữu H, sinh năm 1987; trú tại địa chỉ: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước có trách nhiệm trả cho bà Phạm Thị Hồng L, sinh năm 1988, trú tại địa chỉ: khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước với số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); lãi suất do chậm thi hành án và án phí DSST. Qua tìm hiểu, ông Đào Hữu H có tài sản chung tài sản là các quyền sử dụng đất sau đây:
-
Quyền sử dụng đất có diện tích 40,7m², đất thuộc thửa số 53, tờ bản đồ số 61 được Uỷ ban nhân dân (ghi tắt: UBND) thị xã (nay là thành phố) Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước cấp ngày 06/6/2006 cho hộ ông Đào Xuân N1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (ghi tắt: GCN QSDĐ) có số sổ: AĐ 915969. Vào sổ cấp GCN: H 04253/QSDĐ/3657/QĐ UB. Đất tọa lạc tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Ngày 09/10/2018, Chi nhánh văn phòng Đ1 (nay là thành phố) Đồng Xoài (ghi tắt: CN VPĐKĐĐ) xác nhận chuyển mục đích sử dụng 40,7m² đất trồng lúa sang 40,7m² đất trồng cây lâu năm theo quyết định số 3518/QĐ UBND ngày 20/9/2018.
-
Quyền sử dụng đất có diện tích 611,1m², đất thuộc thửa số 140, tờ bản đồ số 60 được UBND thị xã (nay là thành phố) Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước cấp ngày 06/6/2006 và điều chỉnh của Chi nhánh VPĐKĐĐ thị xã Đ cho hộ ông Đào Xuân N1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số sổ: AĐ 915968, số vào sổ cấp GCN: H 04252/QSDĐ/3657/QĐ-UB. Đất này được đo đạc theo bản đồ đo đạc địa chính ngày 24/04/2019 của Chi nhánh VPĐKĐĐ.
-
Quyền sử dụng đất có diện tích 178m², đất thuộc thửa số 119, tờ bản đồ số 60 được UBND thị xã (nay là thành phố) Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước cấp ngày 06/6/2006 cho hộ ông Đào Xuân N1. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số sổ: AĐ 915967, số vào sổ cấp GCN: H04251/QSDĐ/3657/QĐ UB, được Chi nhánh văn phòng Đ1 (nay là thành phố) Đồng Xoài điều chỉnh biến động ngày 19/7/2018. Đất tọa lạc tại phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Tại thời điểm cấp các quyền sử dụng đất nêu trên thì hộ gia đình ông Đào Xuân N1 gồm có các thành viên:
-
Ông Đào Xuân N1, sinh năm 1960;
-
Bà Mai Thị L1, sinh năm 1963;
-
Ông Đào Xuân N2, sinh năm 1985;
-
Ông Đào Hữu H, sinh năm 1987;
-
Ông Đào Thành L2, sinh năm 1991
Cùng trú tại địa chỉ: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước;
Ngày 13/5/2019, các thành viên trong hộ gia đình ông N1, bà L1 đến Phòng C4, tỉnh Bình Phước lập Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản tặng cho phần tài sản là quyền sử dụng đất được chia (mỗi thành viên được sở hữu 1/5 giá trị quyền sử dụng đất) cho ông N1, bà L1 đối với 02 quyền sử dụng đất:
-
Quyền sử dụng đất có số sổ: H 04253, thuộc tờ bản đồ 61, thửa đất số 53, được UBND thị xã (nay là thành phố Đ) cấp ngày 06/6/2006 cho hộ ông Đào Xuân N1.
-
Quyền sử dụng đất có số sổ: H 04252, thuộc tờ bản đồ 60, thửa đất số 140, được UBND thị xã (nay là thành phố Đ) cấp ngày 06/6/2006 cho hộ ông Đào Xuân N1. (Văn bản thỏa thuận có số công chứng: 2464, quyển số 01 ngày 14/5/2019 của Phòng C4, tỉnh Bình Phước).
Đối với quyền sử dụng đất có số sổ: CS 00178, thuộc tờ bản đồ 13, thửa đất số 233, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 30/12/2021 cho hộ ông Đào Xuân N1 thì hộ gia đình ông N1 đã sang nhượng cho ông Tạ Quang V, sinh năm 1983, CMND số: 285.756.093, trú tại địa chỉ: khu phố T, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước tại Văn phòng C3 (Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số công chứng: 005354 ngày 01/10/2020).
Nhận thấy quyền lợi của bà L bị ảnh hưởng nghiêm trọng, ông Đào Hữu H không thực hiện theo như Quyết định của tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài cũng như của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Đồng Xoài, ngoài ra ông H đã và đang có ý định tẩu tán tài sản là các quyền sử dụng đất nói trên. Chính vì lẽ đó, bà L đã làm đơn khởi kiện lên Tòa án nhân dân thành phố Đồng Xoài yêu cầu tuyên vô hiệu:
-
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có số công chứng: 005354 ngày 01/10/2020 giữa bên chuyển nhượng là hộ ông Đào Xuân N1 và bên nhận chuyển nhượng là ông Tạ Quang V.
-
Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình ông Đào Xuân N1 có số công chứng: 2464, quyển số 01 ngày 14/5/2019 của Phòng C4, tỉnh Bình Phước.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Đào Hữu H trình bày:
Các thửa đất của gia đình ông có nguồn gốc được bố mẹ ông H (ông Đào Xuân N1, bà Mai Thị L1) nhận chuyển nhượng của ông Mai Minh C từ năm 1985, đến năm 1994 thì được làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ khi sinh ra (năm 1987) cho đến nay, ông không có đóng góp gì cho việc khai phá thêm, xây dựng, sửa chữa nhà, đất của gia đình. Đây là tài sản riêng của bố mẹ ông. Tuy nhiên, anh em bà L đều đã lớn, có gia đình riêng nhưng vẫn còn đứng tên chung trong hộ như vậy sẽ khó khăn cho việc bố mẹ bà Lương thực H1 việc giao dịch đất (đất đứng tên hộ), do đó năm 2019 cả gia đình thống nhất cùng nhau đến Phòng C2 tỉnh Bình Phước để làm văn bản phân chia tài sản chung của hộ gia đình về lại cho bố mẹ bà L. Như vậy, bản thân bà L không có liên quan bất cứ quyền lợi, hay nghĩa vụ gì đối với đất đai của gia đình. Do đó bà L không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đào Xuân N1 – đồng thời là đại diện theo ủy quyền của bà Mai Thị L1, ông Đào Xuân N2, ông Đào Thành L2 trình bày:
Năm 1985, vợ chồng ông có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của ông C, diện tích là 1.570m² đất tọa lạc tại thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Sông Bé (thời điểm Tòa án đang thụ lý vụ án là: thành phố Đ, tỉnh Bình Phước).
Ngày 05/08/1993, ông N1 làm thủ tục xin và đã được UBND huyện Đ, tỉnh Sông Bé cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 359/GCN/ĐP/SB. Đến ngày 05/05/2000 UBND tỉnh B đã cấp đổi Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất mới cho ông N1 số 657/QSDĐ/UB. Nội dung là cấp cho ông Đào Xuân N1, được quyền sử dụng 1.570m² đất tại phường T, thị xã Đ, tỉnh Bình Phước, trong đó 400m² đất đất thổ cư và 1180m² đất lúa.
Toàn bộ các thửa đất và diện tích nêu trên là do vợ chồng ông N1 nhận chuyển nhượng từ ông C từ năm 1985 và sử dụng ổn định từ đó cho đến nay. Tại thời điểm nhận chuyển nhượng thửa đất trên của ông C năm 1985, thì vợ chồng ông N1 mới chỉ có 01 người con là Đào Xuân N2, sinh năm 1985, còn Đào Hữu H và Đào Thành L2 chưa sinh. Sau này các con của ông N1 cũng không có đóng góp tiền của hay công sức gì để khai phá, cải tạo, san lấp, xây dựng thêm vào thửa đất này.
Đến tháng 06/2006, từ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 657/QSDĐ/UB trên và qua các điều chỉnh biến động, ông N1 đã làm thủ tục tách thửa ra 4 thửa có các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cụ thể như sau:
-
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AĐ 915967, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H 04251/QSDĐ/3657/QĐ – UB do UBND thị xã (nay là thành phố) Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước cấp ngày 06/06/2006 cho hộ ông Đào Xuân N1, thửa đất số 119, tờ bản đồ số 60, diện tích 178m² đất trồng lúa. Đất tọa lạc tại phường T, thị xã (nay là thành phố) Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước cấp ngày 30/12/2021;
-
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AĐ 915968, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H 04252/QSDĐ/3657/QĐ – UB do U (nay là thành phố) Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước cấp ngày 06/06/2006 cho hộ ông Đào Xuân N1, thửa đất số 140, tờ bản đồ số 60, diện tích 770,8m², trong đó 300m² đất thổ cư và 370,8m² đất trồng lúa. Đất tọa lạc tại phường T, thị xã (nay là thành phố) Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước;
-
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AĐ 915969, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H 04253/QSDĐ/3657/QĐ-UB do UBND thị xã (nay là thành phố) Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước cấp ngày 06/06/2006 cho hộ ông Đào Xuân N1, thửa đất số 53, tờ bản đồ số 61, diện tích 40,7m² đất trồng lúa. Đất tọa lạc tại phường T, thị xã (nay là thành phố) Đ, tỉnh Bình Phước. Ngày 09/10/2018, Chi nhánh văn phòng Đ1 (nay là thành phố) Đồng Xoài xác nhận chuyển mục đích sử dụng 40,7m² đất trồng lúa sang 40,7m² đất trồng cây lâu năm theo quyết định số 3518/QĐ – UBND ngày 20/09/2018, hồ sơ số 020179;
-
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AĐ 975928, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận H 04415/QSDĐ/4850/QĐ – UB do UBND thị xã (nay là thành phố) Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước cấp ngày 01/07/2006 cho hộ ông Đào Hữu H, thửa đất số 577, tờ bản đồ số 60, diện tích 159,7m², trong đó có 100m² đất thổ cư và 59,7m² đất trồng lúa. Đất tọa lạc tại phường T, thị xã (nay là thành phố) Đ, tỉnh Bình Phước. Điều chỉnh biến động trang 4, chuyển nhượng cho ông Đào Xuân N1 ngày 03/10/2018;
Theo Quyết định về việc thu hồi và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 3657/QĐ-UBND ngày 06/6/2006 của Ủy ban nhân dân thị xã U (cũ) thì đã thu hồi GCN QSDĐ đứng tên cá nhân ông N1 và tách thành 03 GCN QSDĐ đứng tên hộ ông Đào Xuân N1. Khi đó, bản thân ông N1 không am hiểu pháp luật, ông chỉ nghĩ là tên cá nhân ông N1 hay tên hộ đứng tên ông N1 thì cũng như nhau, mặc khác trong Quyết định 3657 nêu trên cũng ghi việc cấp lại, cấp đổi là để “Theo mẫu thống nhất”. Do đó, ông N1 không có ý kiến gì. Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng và có nhu cầu giao dịch đất thì phát sinh khó khăn do phải có chữ ký đủ của các thành viên hộ gia đình. Do đó, gia đình ông N1 thống nhất sẽ làm lại GCN QSDĐ về lại tên ông N1 và vợ ông (bà Mai Thị L1). Đến ngày 13/05/2019, gia đình ông N1 làm Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình số 2464, lập tại Phòng C2 tỉnh Bình Phước, đường N, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.
Nội dung là các ông Đào Xuân N2, Đào Hữu H, Đào Thành L2 đồng ý tặng cho phần giá trị quyền sử dụng đất mình sở hữu cho: ông Đào Xuân N1 cùng vợ là bà Mai Thị L1. Ngày 01/10/2020, gia đình ông N1 đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 005354, tại Văn phòng C3, địa chỉ A, đường P, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước. Nội dung: sang nhượng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AĐ 915969, số vào sổ cấp GCN H4253/QSDĐ/3657/QĐ – UB do UBND thị xã, nay là thành phố Đ, tỉnh Bình Phước cấp ngày 06/06/2006 cho hộ ông Đào Xuân N1, thửa đất số 53, tờ bản đồ số 61, diện tích 40,7m² đất trồng lúa. Đất tọa lạc tại phường T, thị xã (nay là thành phố) Đ, tỉnh Bình Phước cho ông Tạ Quang V. Ngày 21/04/2022, Chi cục T, ông Lê Thanh Đ mời ông Đào Xuân N1 lên làm việc, để giải quyết việc thi hành án của ông Đào Hữu H, ông N1 cũng đã có ý kiến như sau: 05 tài sản là quyền sử dụng đất theo kết quả trả lời cung cấp thông tin của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ theo công văn 357/CNVPĐKĐĐ-TT-LT ngày 24/03/2022 không liên quan đến ông Đào Hữu H. Việc thi hành án của ông Đào Hữu H không liên quan đến ông Đào Xuân N1. Từ các căn cứ trên, ông Đào Xuân N1 đề nghị Toà án bác đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Hồng L.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Tạ Quang V trình bày:
Đối với yêu cầu tuyên bố Văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung của hộ gia đình ông Đào Xuân N1 có số công chứng: 2464, quyển số 01 ngày 14/5/2019 của Phòng C4, tỉnh Bình Phước là vô hiệu thì không liên quan đến bà L, nên bà L không có ý kiến gì….
Tải bản án: Bản án số: 581/2025/DS-PT Ngày: 18-11-2025
Nguồn: Công bố bản án

