Nội Dung Vụ Án Tranh chấp Hợp đồng ủy quyền; Đòi lại tài sản là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Theo Đơn Khởi Kiến Của Nguyên Đơn Bà Nguyễn Thị Trung A
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Lê Hồng O trình bày:
Bà Trần Thị G (bị đơn) là chủ sử dụng thửa đất số 852, tờ bản đồ số 3, tọa lạc tại thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSD) số CN 246299, số vào sổ cấp GCN: CH 09118 do UBND thành phố N (tỉnh Khánh Hòa) cấp ngày 03/8/2018. Sau đó, bà G tách thửa đất này thành hai là: Thửa đất số 852-1 (diện tích 126,3m²) và thửa đất số 852-2 (diện tích 230m²), theo Mảnh trích đo địa chính thửa đất do Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N cấp ngày 11/6/2019. Cùng ngày, bà G chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Trung A (nguyên đơn) thửa đất số 912 (tức thửa đất số 852-1), tờ bản đồ số 3, diện tích 126,3m² tọa lạc tại thôn P, xã P, thành phố N theo Hợp đồng chuyển nhượng một phần quyền sử dụng đất, công chứng số: 10340, quyển số: 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 11/6/2019 tại Văn phòng C1 (tỉnh Khánh Hòa). Sau đó, bà Trung A được cấp GCNQSD đất số: CR 597101, số vào sổ cấp GCN: CS 01542 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K – TUQ. Giám đốc – Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N cấp ngày 27/6/2019. Việc giao nhận tiền chuyển nhượng, bà Hồ Thị H2 (mẹ của bà Trung A) là người chuyển tiền mua đất cho bà G 02 lần: Lần thứ nhất là 750.000.000 đồng (Bảy trăm năm mươi triệu đồng) vào ngày 04/04/2019; Lần thứ hai là 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng) vào ngày 02/5/2019 (đính kèm 02 ủy nhiệm chi của Ngân hàng N1 – B).
Tháng 6/2022, bà G liên hệ và báo tin rằng thửa đất nêu trên của bà Trung A đang có thông tin giải phóng mặt bằng, đền bù hành lang của thửa đất. Do điều kiện công tác ở xa, đi lại không tiện và mất thời gian nên theo đề nghị của bà G thì bà Trung A ủy quyền cho bà G để thay mặt bà Trung A phối hợp chính quyền địa phương đo đạc, giải quyết và nhận tiền đền bù giải phóng hành lang đất. Vì thế ngày 18/6/2022, bà Trung A vào đến N, thì bà G dẫn đến Văn phòng C (tỉnh Khánh Hòa) để ký Hợp đồng ủy quyền nhằm mục đích để bà G thay mặt bà Trung A thực hiện các thủ tục nêu trên. Quá trình bà Trung A đến ký Hợp đồng ủy quyền cho đến lúc bà Trung A ký xong thời gian diễn ra rất nhanh chỉ trong vòng 10-15 phút và công chứng viên cũng không hề tư vấn hay giải thích bất cứ một thông tin, nội dung trên Hợp đồng ủy quyền để bà Trung A hiểu rõ trách nhiệm và hậu quả pháp lý khi ký vào Hợp đồng ủy quyền nhưng vì tin tưởng đối với bà G, văn phòng công chứng và cũng một phần nhẹ dạ, nên bà Trung A không đọc lại mà ký ngay vào Hợp đồng ủy quyền này.
Kể từ hôm đó, bà Trung A không nhận được bất kỳ thông tin nào về tình trạng thửa đất và cũng không nhận khoản tiền đền bù nào. Đến tháng 12/2022 bà Trung A mất liên lạc với bà G. Khi gọi vào số điện thoại của bà G thì đầu dây bên kia là giọng một người đàn ông tự xưng là T, nói rằng bà G đã đi sang Canada sinh sống và tất cả các công việc bà Trung A ủy quyền từ nay sẽ do ông T này thực hiện. Không hiểu vì sao người này lại nói như vậy, hoàn toàn bất ngờ và lo lắng nên bà Trung A xin trích sao Hợp đồng ủy quyền thì mới biết nội dung ủy quyền là cho phép bà G được toàn quyền quyết định việc sử dụng, quản lý và định đoạt đối với thửa đất số 912, tờ bản đồ số 3, diện tích 126,3m² tọa lạc tại Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; với thời hạn ủy quyền là 25 năm; không có thù lao ủy quyền và ngày ký kết ghi trong Hợp đồng ủy quyền công chứng là ngày 24/6/2022 (nhưng thực tế bà Trung A ký vào ngày 18/6/2022, chứ không phải là ngày 24/6/2022). Vì lo ngại sẽ xảy ra những hậu quả khó lường và phát sinh các vấn đề pháp lý rắc rối về sau đối với thửa đất nêu trên, nên ngày 12/12/2023 bà Trung A đã nộp đơn đề nghị ngăn chặn thực hiện thủ tục chuyển nhượng đối với thửa đất này lên các cơ quan có thẩm quyền. Sau đó, bà Trung A nhận được Văn bản trả lời số 16766/CNNT ngày 25/12/2023 Chi nhánh văn phòng Đ tại thành phố N (tỉnh Khánh Hòa), cho biết bà G đang nộp hồ sơ đăng ký chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho ông Châu Hữu T, theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng: 02521 ngày 13/12/2023 tại Văn phòng C (tỉnh Khánh Hòa). Có thể thấy, chỉ sau 01 ngày kể từ khi bà Trung A nộp đơn ngăn chặn giao dịch, thì bà G đã tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông T, mà không hề thông báo bà Trung A được biết về vấn đề này. Rõ ràng bà G vẫn đang sống tại thành phố N, chứ không hề đi sang nước ngoài như những gì ông T nói. Ngoài ra, theo thông tin được biết từ ông Nguyễn Cảnh T2 (Địa chỉ: Thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An) là chủ sử đất liền kề với bà Trung A thì ngày 16/01/2024, bà G đã chuyển 36.000.000₫ (Ba mươi sáu triệu đồng) tiền đền bù hành lang đất cho ông Nguyễn Cảnh T2. Nên có lý do để tin rằng, bà G cũng đã nhận tiền đền bù đất của bà Trung A nhưng lại không thông báo và không bàn giao tiền lại cho bà Trung A.
Như vậy, bà G đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ quy định tại Điều 5 của Hợp đồng ủy quyền là không thông báo cho bà Trung A được biết về việc bà G nhận tiền đền bù hành lang đất của bà Trung A, cũng như bà G đã ký hợp đồng đặt cọc với ông Châu Hữu T ngày 13/11/2023 và sau đó ngày 13/12/2023 bà G đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng đất cho ông Châu Hữu T. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Trung A. Bà Trung A đã không còn sự tin tưởng đối với bà G và việc ủy quyền nêu trên cũng không còn cần thiết, không còn nhu cầu nữa, để tránh những rủi ro pháp lý về sau có liên quan đến thửa đất nêu trên.
Do đó, căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 569 của Bộ luật Dân sự 2015 và quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trung A đã gửi thông báo bằng văn bản đến bà G và bên thứ ba có liên quan, cùng các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc bà Trung A đơn phương chấm dứt Hợp đồng ủy quyền. Nghĩa là bà G không được quyền nhân danh bà Trung A thực hiện các công việc ủy quyền liên quan đến thửa đất nêu trên. Mọi giao dịch phát sinh từ thời điểm này do bà G thực hiện liên quan đến thửa đất nêu trên đều không được công nhận và không có giá trị pháp luật.
Yêu Cầu Của Nguyên Đơn
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết:
- Hủy Hợp đồng ủy quyền do Văn phòng C2 đề ngày 24/6/2022 giữa bên ủy quyền là bà Nguyễn Thị Trung A và bên được ủy quyền là bà Trần Thị G liên quan đến quyền sử dụng đất tại thửa đất số 912, tờ bản đồ số 3, diện tích 126,3m² tọa lạc tại Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.
- Buộc bà Trần Thị G phải trả lại cho bà Nguyễn Thị Trung A Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CR 597101, số vào sổ cấp GCN: CS 01542 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K – TUQ. Giám đốc – Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố N cấp ngày 27/6/2019.
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, số công chứng: 02521 ngày 13/12/2023 tại Văn phòng C (Địa chỉ: Số C Đường T, Khu đô thị H, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa) đối với thửa đất số 912, tờ bản đồ số 3, diện tích 126,3m² tọa lạc tại Thôn P, xã P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, giữa bên chuyển nhượng là bà Nguyễn Thị Trung A (đại diện theo ủy quyền là bà Trần Thị G) với bên nhận chuyển nhượng là ông Châu Hữu T.
- Đối với Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 07/2024 ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang, nguyên đơn yêu cầu tiếp tục giữ nguyên để đảm bảo thi hành án.
Tải bản án đầy đủ: Bản án số: 240/2025/DS-PT Ngày: 23/12/2025
Nguồn: Công bố bản án

