NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG, TÀI SẢN CHUNG
Căn cứ các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng
Đơn kháng cáo của ông T và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh được thực hiện trong thời hạn luật định. Nội dung kháng cáo, kháng nghị thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm và phù hợp với quy định tại các Điều 271, 273, 278 và 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Do đó, kháng cáo và kháng nghị được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Xét kháng cáo của ông T và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2] Về nguồn gốc và việc phân chia hai thửa đất số 480, 481
Nguồn gốc hai phần đất thuộc thửa số 480 và 481 tại khu phố C, phường D, thành phố T (nay là khu phố A, phường T), tỉnh Tây Ninh là của cha mẹ bà Đ tạo lập.
Năm 1994, Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Bùi Đình Đ2 (cha bà Đ) với tổng diện tích 2.122 m², thuộc thửa đất số 570.
Sau khi ông Đ2 chết, năm 2006, bà Nguyễn Thị Đ3 (mẹ bà Đ) cùng các con phân chia đất cho mỗi người một phần. Phần đất còn lại có diện tích 934,6 m² được bà Đ3 cùng các con ký hợp đồng tặng cho bà Đ ngày 27/12/2006.
Ngày 09/02/2007, bà Đ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 934,6 m², sau đó đổi thành thửa số 209, tờ bản đồ số 11. Ngày 17/11/2008, giấy chứng nhận được cấp đổi để ông T và bà Đ cùng đứng tên.
Đến năm 2014, thửa đất số 209 được cấp đổi giấy chứng nhận và tách thành hai thửa: thửa số 480 có diện tích 186,1 m² và thửa số 481 có diện tích 529 m², trong đó một phần diện tích được sử dụng làm lối đi chung. Ông T và bà Đ được cấp hai Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa này.
Trên thửa đất số 481 còn có căn nhà do cha mẹ bà Đ xây dựng.
Bà Đ cho rằng hai thửa đất số 480 và 481 có nguồn gốc do mẹ và các anh chị em tặng cho riêng bà. Sau đó, bà đã nhập tài sản này vào tài sản chung của vợ chồng. Vì vậy, bà yêu cầu được chia 70%, ông T được chia 30% và bà được nhận cả hai thửa đất.
Ngược lại, ông T cho rằng ông đã mua nhà, đất thuộc thửa số 209, diện tích 934,6 m² từ mẹ vợ là bà Nguyễn Thị Đ3 vào khoảng năm 2006. Do thời điểm đó chưa trả hết tiền nên ông chỉ làm hợp đồng tặng cho để vợ đứng tên. Sau khi trả đủ tiền cho bà Đ3, bà Đ3 lập “giấy chuyển nhượng nhà đất” cho ông để xác nhận việc mua bán và thanh toán đã hoàn tất. Trên cơ sở đó, vợ chồng ông cùng đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bà Đ không thừa nhận việc mẹ mình lập giấy bán nhà đất cho ông T. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đ3 đã chết nên không thể tiến hành đối chất.
Tuy nhiên, theo Kết luận giám định số 2271/KL-KHHS ngày 29/6/2026 của Phòng K, Công an tỉnh T, chữ viết và chữ ký trong “giấy chuyển nhượng nhà đất” không ghi ngày, tháng, năm và ba phiếu chỉ tiền cũng không ghi ngày, tháng, năm, khi so sánh với chữ viết, chữ ký của bà Đ3 tại Tờ khai chứng minh nhân dân được lưu tại Phòng Quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh T thì đều do cùng một người viết, ký.
Ngoài ra, “giấy chuyển nhượng nhà đất” còn có chữ ký của bà Đ1, là em gái bà Đ.
Do đó, có đủ căn cứ xác định “giấy chuyển nhượng nhà đất” do ông T giao nộp là giấy do bà Đ3 viết và ký. Nội dung giấy thể hiện bà Đ3 bán nhà và đất thuộc thửa số 209, tờ bản đồ số 11, diện tích 934,6 m² cho ông T và đã nhận đủ tiền. Tuy nhiên, giấy không ghi cụ thể số tiền chuyển nhượng.
Ông T cũng không nhớ chính xác giá mua mà chỉ ước tính trên 400 triệu đồng; trong khi bà Đ xác định giá trị nhà đất tại thời điểm năm 2006 trên 1 tỷ đồng.
Ba phiếu chỉ tiền do bà Đ3 ký nhận, không ghi ngày, tháng, năm, có tổng số tiền 225 triệu đồng.
Như vậy, có căn cứ xác định nhà đất thuộc thửa số 209, sau này tách thành hai thửa số 480 và 481, là tài sản mà vợ chồng ông T, bà Đ đã cùng bỏ tiền ra nhận chuyển nhượng từ bà Đ3. Tuy nhiên, số tiền có căn cứ chứng minh đã thanh toán thấp hơn nhiều so với giá trị thực tế của nhà đất tại thời điểm chuyển nhượng.
Do đó, có căn cứ xác định nhà đất thuộc sở hữu chung của ông T và bà Đ.
Việc bà Đ và Tòa án cấp sơ thẩm xác định nhà đất có nguồn gốc do bà Đ được mẹ tặng cho riêng và chia cho ông T 30%, bà Đ 70% là chưa chính xác, chưa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của ông T.
Tuy nhiên, ông T cho rằng toàn bộ số tiền mua nhà đất do ông bỏ ra và yêu cầu được chia 70% cũng không có cơ sở chấp nhận.
Có căn cứ xác định nguồn gốc nhà đất tại các thửa 480 và 481 là tài sản của gia đình bà Đ chuyển giao cho vợ chồng bà Đ, ông T; vợ chồng ông T có trả cho bà Đ3 một phần tiền, phần còn lại được xem là tài sản tặng cho.
Do đó, căn cứ Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình, việc chia cho bà Đ 60% và ông T 40% là phù hợp.
[3] Về thửa đất số 983
Đối với phần đất diện tích 817 m² thuộc thửa số 983, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp K, xã C, huyện D (nay là xã C), tỉnh Tây Ninh, đây là tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân do ông T và bà Đ cùng nhận chuyển nhượng từ người khác.
Vì vậy, việc chia đôi giá trị quyền sử dụng đất là bảo đảm quyền và lợi ích của các bên.
[4] Về việc chia tài sản bằng hiện vật
Ông T yêu cầu được nhận một trong hai thửa đất số 480 hoặc 481 để ở. Bà Đ yêu cầu được nhận cả hai thửa đất.
Xét thấy, trên thửa đất số 481 có căn nhà hiện bà Đ và các con đang sinh sống và kinh doanh. Vì vậy, cần giao thửa đất này cho bà Đ sở hữu, sử dụng để bảo đảm ổn định cuộc sống.
Ông T hiện ở một mình nên giao thửa đất số 480 cho ông T quản lý, sử dụng.
Do thửa đất số 480 có diện tích nhỏ, cần giao thêm thửa đất số 983, tờ bản đồ số 4, tọa lạc tại ấp K, xã C, huyện D (nay là xã C), tỉnh Tây Ninh cho ông T quyền sử dụng.
[5] Về nghĩa vụ trả nợ ngân hàng
Ông T và bà Đ cùng ký hợp đồng vay theo hình thức hạn mức tín dụng. Ông T có giấy cam kết giao cho bà Đ nhận tiền khi ngân hàng giải ngân. Khoản tiền vay phát sinh trong thời kỳ hôn nhân và được sử dụng phục vụ hoạt động kinh doanh chung.
Do đó, ông T và bà Đ cùng có trách nhiệm trả khoản nợ này như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên.
Ông T cho rằng khoản tiền vay ngân hàng do bà Đ sử dụng riêng nên ông không đồng ý cùng trả nợ. Tuy nhiên, cả ông T và bà Đ đều ký hợp đồng vay, đã thực hiện việc trả nợ rồi tiếp tục vay lại. Việc bà Đ ký nhận tiền được thực hiện trên cơ sở sự đồng ý của ông T bằng văn bản.
Mặt khác, khoản tiền vay được sử dụng vào hoạt động kinh doanh chung của vợ chồng nên không có căn cứ chấp nhận ý kiến của ông T về việc không phải chịu trách nhiệm trả nợ.
Tính đến ngày 07/7/2026, tổng số tiền phải trả cho ngân hàng là 905.139.726 đồng. Ông T và bà Đ mỗi người có trách nhiệm trả 452.569.863 đồng, cùng tiền lãi phát sinh từ ngày 07/7/2026 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
Tuy nhiên, do ông T và bà Đ đã ly hôn và tài sản thế chấp là thửa đất số 481 được giao cho bà Đ nên cần buộc bà Đ trả toàn bộ khoản nợ cho ngân hàng để bảo đảm quyền xử lý tài sản thế chấp của ngân hàng.
Phần nghĩa vụ trả nợ của ông T được khấu trừ khi xác định giá trị tài sản ông T được hưởng.
[6] Về giá trị tài sản được chia
Thửa đất số 480 có giá trị 765.146.200 đồng.
Thửa đất số 481 và tài sản gắn liền với đất có giá trị 8.110.212.420 đồng.
Tổng giá trị hai thửa đất là 8.875.358.620 đồng.
Theo tỷ lệ chia 60% cho bà Đ và 40% cho ông T:
- Bà Đ được chia 60%, tương đương 5.325.215.172 đồng.
- Ông T được chia 40%, tương đương 3.550.143.448 đồng.
Đối với thửa đất số 983, có giá trị 4.370.438.000 đồng, được chia đôi nên mỗi người được hưởng 2.185.219.000 đồng.
Như vậy:
- Tổng giá trị tài sản bà Đ được chia: 7.510.434.172 đồng.
- Tổng giá trị tài sản ông T được chia: 5.735.362.448 đồng.
Khoản nợ ngân hàng là 905.139.726 đồng, mỗi người có nghĩa vụ chịu 452.569.863 đồng.
Sau khi khấu trừ nghĩa vụ trả nợ:
- Giá trị tài sản ông T được hưởng: 5.282.792.585 đồng.
- Giá trị tài sản bà Đ được hưởng: 7.057.864.309 đồng.
Về hiện vật, bà Đ được giao thửa đất số 481 cùng toàn bộ tài sản gắn liền với đất, có giá trị 8.110.212.420 đồng.
Ông T được giao thửa đất số 480 và thửa đất số 983, có tổng giá trị 5.135.584.200 đồng.
Do bà Đ phải trả thay phần nghĩa vụ nợ ngân hàng của ông T số tiền 452.569.863 đồng, nên bà Đ có trách nhiệm thanh toán cho ông T khoản tiền chênh lệch giá trị tài sản chung là 147.208.385 đồng.
[7] Về các yêu cầu khác của ông T
Đối với các yêu cầu của ông T về việc:
- Ông có vay 100 lượng vàng để mua đất và yêu cầu chia khoản nợ này theo tỷ lệ chia đất;
- Bà Đ nhờ ông vay số tiền 440.000.000 đồng để chi tiêu cá nhân nhưng chưa trả;
- Ông mua một phần đất diện tích 434 m² tại xã C, tỉnh Tây Ninh nhưng do bà Đ đứng tên và sau đó đã chuyển nhượng cho người khác nên yêu cầu được chia đôi số tiền;
Hội đồng xét xử xét thấy, các nội dung này tại cấp sơ thẩm hai bên không tranh chấp và Tòa án cấp sơ thẩm cũng không giải quyết.
Do đó, các nội dung trên không thuộc phạm vi, thẩm quyền xem xét của Tòa án cấp phúc thẩm.
[8] Về việc sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm
Sau khi tuyên án, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành quyết định sửa chữa, bổ sung bản án liên quan đến việc xử lý tài sản thế chấp và tiền tạm ứng án phí mà ngân hàng đã nộp.
Việc sửa chữa, bổ sung này không đúng quy định tại Điều 268 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tuy nhiên, bản án gốc và biên bản nghị án đã thể hiện Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm có giải quyết và biểu quyết đối với các nội dung này. Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự cũng thống nhất đề nghị giải quyết các nội dung trên trong cùng vụ án.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không cần thiết phải hủy án đối với các nội dung này mà có thể xem xét, giải quyết để vụ án được giải quyết toàn diện.
Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm về vấn đề này.
Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của ông T, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh và sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
[9] Về án phí
[9.1] Án phí sơ thẩm
Bà Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo mức không có giá ngạch.
Ông T phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo mức không có giá ngạch.
Ông T và bà Đ phải chịu án phí sơ thẩm có giá ngạch trên giá trị tài sản được hưởng sau khi đã trừ nghĩa vụ trả nợ và trên số nợ phải trả cho ngân hàng theo quy định pháp luật.
[9.2] Án phí phúc thẩm
Do kháng cáo của ông T được chấp nhận một phần nên ông T không phải chịu án phí phúc thẩm.
[10] Hiệu lực của các quyết định khác
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Đọc, tải bản án: Bản án 36-2026-HNGĐ-PT – Ly hôn, tài sản chung
Liên hệ ngay với chúng tôi nếu bạn đang cần hỗ trợ pháp lý, hãy liên hệ ngay với Công ty Luật Việt Nguyên ngay bây giờ để được tư vấn và giải quyết vướng mắc pháp lý cách chuyên nghiệp và hiệu quả nhất. Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cung cấp cho bạn những giải pháp, pháp lý tốt nhất để đảm bảo quyền lợi của bạn.
Kết nối với Việt Nguyên – An tâm vững bước
Liên hệ ngay để được tư vấn 1:1 cùng chuyên gia:
📞 Hotline: 0936.39.29.79 – 0937.67.69.69
📍 Trụ sở chính: Số 41 Cách Mạng Tháng Tám, phường Long Khánh, Tp. Đồng Nai.
📍 Chi nhánh: Số 23 Nguyễn Du, P. Trấn Biên, Tp. Đồng Nai.
📘 Facebook: Công ty Luật Việt Nguyên
🌐 web: https://luatsudongnai.org/
✉️ Email: luatsutrangiap@gmail.com | 💬 Zalo: 0937.67.69.69 – 0936.39.29.79
Việt Nguyên – Nơi công lý được hiện thực hóa bằng tâm huyết và tri thức!

