NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN ÁN LỆ SỐ 75/2025/AL VỀ THỦ ĐOẠN GIAN DỐI ĐỂ TRỘM CẮP TÀI SẢN
[1] Tối ngày 19/02/2021, ông Kang Chan J đến quán Bar A, tại 177 L, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng cùng chị Trần Thị Bích N để ăn uống và ngồi cùng bàn với một số bạn bè quen biết. Khi ngồi vào bàn, ông Kang Chan J để túi xách màu đen (bên trong có 01 điện thoại di động Samsung S8; 04 triệu đồng Việt Nam, 01 ví nhỏ và một số giấy tờ tùy thân) trên ghế ngồi của mình; bên cạnh là chị Trần Thị Bích N ngồi.[2] Trong lúc đang ăn uống, ông Kang Chan J đi ra ngoài quán Bar A để nói chuyện với bạn; bị cáo Hong Chun K biết ông J đang ở ngoài nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của ông J và đã tiếp cận tài sản bằng cách vào trong quán Bar A hỏi và ra hiệu cho mọi người trong bàn lấy túi xách giao cho bị cáo; chị N nhầm tưởng bị cáo Hong Chun K là bạn của ông Kang Chan J nên đã lấy túi xách đưa cho Hong Chun K chiếm đoạt.
[3] Tổng trị giá tài sản mà bị cáo Hong Chun K chiếm đoạt của ông Kang Chan J được xác định là 11.600.000 đồng.
[4] Hành vi nêu trên của bị cáo Hong Chun K bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng khởi tố về tội “Trộm cắp tài sản” và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố về tội “Trộm cắp tài sản”. Bản án hình sự sơ thẩm số 79/2021/HS-ST ngày 26 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng đã kết án bị cáo Hong Chun K về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy rằng:
[5] Theo lời khai của ông Kang Chan J cho thấy khi ra khỏi quán Bar để nói chuyện với bạn thì ông Kang Chan J vẫn để túi xách tại bàn và không giao cho ai trong bàn quản lý túi xách: “Khi tôi đứng dậy ra ngoài, túi xách vẫn để trên ghế của tôi… tôi không nói hay nhờ N quản lý giùm tài sản của tôi…”. Lời khai của ông Kang Chan J phù hợp với lời khai của chị N về việc ông J để túi xách tại nơi ăn uống, không giao cho chị N quản lý và việc chị N giao túi xách cho bị cáo là do nhầm tưởng bị cáo Hong Chun K là bạn của ông J: “Trong lúc ăn uống tại đây, ông Kang Chan J có để túi xách cầm tay tại bàn bên trong quán và đi ra bên ngoài nói chuyện với bạn ông Kang Chan J. Lúc đi ra ngoài, ông Kang Chan J không giao túi xách cầm tay của ông cho tôi cũng như không nhờ tôi quản lý…” và “Có một người đàn ông Hàn Quốc đến bảo đưa bóp và điện thoại… tôi tin tưởng là bạn của ông J nên đã đưa cái ví da cho người này”. Các lời khai của những người cùng bàn ăn uống với ông Kang Chan J cũng thể hiện ông J không giao cho ai quản lý túi xách của ông.
[6] Do đó, chị Trần Thị Bích N và những người cùng bàn ăn uống không phải là người quản lý hợp pháp túi xách của ông J. Tuy bị cáo Hong Chun K đưa ra những thông tin gian dối và công khai chiếm đoạt như: hỏi mọi người: “Cái bóp và điện thoại của người Hàn Quốc đâu” và khi chị N hỏi lại có phải cái túi xách của ông Kang Chan J không thì bị cáo ra hiệu đúng làm cho chị N tin tưởng lấy túi xách đưa cho bị cáo nhưng chị N không phải là chủ sở hữu hoặc người quản lý túi xách của ông Kang Chan J; đây là thủ đoạn để thực hiện ý định chiếm đoạt của bị cáo và khi chị N giao túi xách thì chủ tài sản là ông J không biết mình bị lừa dối nên hành vi của bị cáo Hong Chun K không phải là hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.
[7] Bị cáo Hong Chun K lợi dụng lúc ông Kang Chan J ở nơi khác, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu, người quản lý tài sản (túi xách) để chiếm đoạt và khi bị cáo chiếm đoạt túi xách thì ông Kang Chan J không biết: “6 giờ sau khi ngủ dậy thì tôi phát hiện túi xách tôi không có, tôi điện thoại cho N hỏi…”. Như vậy, bị cáo Hong Chun K chiếm đoạt túi xách một cách lén lút đối với người chủ sở hữu, người quản lý tài sản là ông J nên hành vi của bị cáo là hành vi trộm cắp. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Nẵng khởi tố bị cáo Hong Chun K về tội “Trộm cắp tài sản” và Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo Hong Chun K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là không phù hợp với hành vi phạm tội và không đúng pháp luật.
[8] Tuy Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị, chuyển tội danh và xét xử bị cáo Hong Chun K về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng theo lý lịch tư pháp của bị cáo (do Tổng lãnh sự quán Hàn Quốc cung cấp), cho thấy bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần bị xử lý về hành vi chiếm đoạt đã thể hiện xem thường pháp luật. Vì vậy, sau khi đánh giá tính chất nghiêm trọng của vụ án, mức độ của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định xử phạt bị cáo 12 tháng tù là có căn cứ và đã chiếu cố. Cho nên, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hong Chun K.
[9] Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng và không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Hong Chun K.
[10] Các quyết định khác còn lại của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xét.
Tải công văn: NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN ÁN LỆ SỐ 75/2025/AL VỀ THỦ ĐOẠN GIAN DỐI ĐỂ TRỘM CẮP TÀI SẢN
Nguồn: Công bố bản án

