Bản số: 73/2025/DS-PT Ngày: 21/02/2025 V/v: “Tranh chấp chia thừa kế”

Tranh Chấp Chia Thừa Kế

Nội Dung Vụ Án Tranh Chấp Chia Thừa Kế

Tại đơn khởi kiện ngày 03/4/2023 và quá trình tố tụng, nguyên đơn là ông Nguyễn Bá Á, người có quyền lợi liên quan đứng về phía nguyên đơn là ông Nguyễn Bá H2, bà Nguyễn Thị L1, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị S1 trình bày: Bố, mẹ các ông bà là cụ Nguyễn Bá H5 (chết ngày 03/9/1999) và cụ Nguyễn Thị N1 (chết ngày 24/11/2019) có 06 người con chung là: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1953; ông Nguyễn Bá H, sinh năm 1954; ông Nguyễn Bá H2, sinh năm 1955; ông Nguyễn Bá Á, sinh năm 1960; bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1966. Hai cụ không có con riêng hay con nuôi và đều không để lại di chúc.

Năm 1968 – 1969 cụ H5, cụ N1 được Hợp tác xã A cấp cho 01 thửa đất diện tích 448m², trong đó có 240m² đất ở và 208m² đất vườn (nay là thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02, diện tích 430,7m² đất ở) được UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/12/1998 đứng tên hộ ông Nguyễn Bá H. Năm 2021 ông H báo mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Quyết định số 41/QĐ-STN-MT ngày 18/01/2022. Sau khi được cấp đất, hai cụ làm 01 ngôi nhà cấp bốn 05 gian lợp ngói nằm ở cuối thửa đất để gia đình ở (hiện ngôi nhà này vẫn còn trên đất). Năm 2019 mái nhà xuống cấp, ông Á đã bỏ tiền sửa chữa, cải tạo lại thành nhà mái tôn, ông Á không yêu cầu trích trả giá trị đầu tư, cải tạo ngôi nhà cấp 4. Khi các con trưởng thành đi công tác và đi lấy chồng, nhà đất do hai cụ sử dụng. Năm 1975 ông Nguyễn Bá H kết hôn với bà Nguyễn Thị C sống chung cùng bố mẹ một thời gian thì vợ chồng ông H được bố mẹ cho ra ở riêng. Cụ H5 và cụ N1 đã cắt 1/2 diện tích thửa đất (vị trí nằm phía trước thửa đất) cho vợ chồng ông H và vợ chồng ông H đã dựng 01 ngôi nhà tranh 03 gian trên phần đất được bố mẹ cho để ở, diện tích đất còn lại và ngôi nhà 05 gian trên đất nằm ở phía cuối thửa đất do cụ H5, cụ N1 sử dụng. Năm 1984 ông H phục viên về quê, năm 1989 vợ chồng ông H cải tạo ngôi nhà tranh 03 gian thành ngôi nhà ngói 04 gian, năm 2018 vợ chồng và gia đình H đã phá dỡ ngôi nhà 04 gian xây nhà 02 tầng như hiện nay. Khi làm nhà 02 tầng ông H đã lấn sang phần diện tích đất của bố mẹ để lại (giáp với ngôi nhà 05 gian do bố mẹ xây dựng), anh chị em trong gia đình có ý kiến phản đối vợ chồng ông H làm nhà 02 tầng, nhưng ông H vẫn làm nên anh, chị em trong gia đình bất đồng và có đơn đề nghị UBND phường A. UBND phường A đã hòa giải tranh chấp đất đai, nhưng không thành nên ông Nguyễn Bá Á có đơn khởi kiện đề nghị chia thừa kế tài sản của cụ H5, cụ N1 để lại là toàn bộ quyền sử dụng đất tại thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02, diện tích 430,7m² được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên hộ ông Nguyễn Bá H và ngôi nhà cấp bốn 05 gian trên đất theo pháp luật; hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Bá H đối với thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02, diện tích 430,7m² nêu trên.

Bị đơn là ông Nguyễn Bá H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị C, anh Nguyễn Bá H3, chị Nguyễn Thị H4, chị Nguyễn Thị X do người đại diện theo ủy quyền trình bày: Thống nhất với trình bày của ông Á về quan hệ hôn nhân và huyết thống. Thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02, diện tích 430,7m² đất ở tại phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh có nguồn gốc là đất do Hợp tác cấp cho cụ H5, cụ N1 năm 1969. Sau khi được cấp đất, cụ H5, cụ N1 có làm 01 ngôi nhà cấp bốn trên đất để gia đình ở. Quá trình sử dụng, sau khi các con trưởng thành người lấy chồng, người thoát ly công tác chỉ còn vợ chồng ông H là con trai trưởng sống chung cùng bố mẹ. Năm 1984 ông H phục viên về địa phương, được bố mẹ cho ra ở riêng và tuyên bố bằng miệng cho vợ chồng ông toàn bộ thửa đất. Sau khi được bố mẹ cho ở riêng, vợ chồng ông H có làm một ngôi nhà tranh trên đất để ở, năm 1990 vợ chồng ông H làm ngôi nhà ngói 04 gian trên đất, năm 2019 vợ chồng ông H phá dỡ ngôi nhà cấp bốn xây nhà 02 tầng như hiện nay. Mặc dù thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02 có nguồn gốc do Hợp tác xã cấp cho cụ H5, cụ N1, nhưng năm 1984 cụ H5, cụ N1 đã tuyên bố cho vợ chồng ông toàn bộ thửa đất, anh em trong gia đình đều biết và không ai có ý kiến. Quá trình sử dụng, vợ chồng ông đã làm nhà sử dụng ổn định, năm 1988 khi địa phương có chủ trương giao đất làm kinh tế hộ gia đình vợ chồng ông, bố mẹ ông là cụ H5, cụ N1, các con ông là anh H3, chị X, chị H4 (07 nhân khẩu) đã phải chấp nhận cắt bớt diện tích đất làm kinh tế gia đình được giao theo hạn mức để giữ nguyên hiện trạng và diện tích của thửa đất (giữ nguyên diện tích 208m² đất vườn). Năm 1998 khi địa phương có chủ trương làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thời điểm đó hộ gia đình gồm 07 nhân khẩu được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử đất đứng tên hộ ông Nguyễn Bá H, năm 2022 được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp đổi sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Ông H và gia đình không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Á về việc chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  • Theo kết quả đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ: Thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02 có diện tích đo đạc trên thực địa 430,7m² đứng tên hộ ông Nguyễn Bá H trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được cấp lại sang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất năm 2022, thửa đất có vị trí: Phía Nam giáp đường đi của khu phố; phía Bắc giáp nhà ông bà C1 – H6; phía Tây giáp nhà ông bà L2 – Mềm; phía Đông giáp ngõ đi; tài sản trên đất gồm 01 ngôi nhà 02 tầng + 01 công trình phụ, 02 ngôi nhà cấp 4 lợp ngói, 01 sân lát gạch nung và tường bao phía trước ngôi nhà (các hạng mục công trình này do vợ chồng ông H đầu tư xây dựng); 01 ngôi nhà cấp 4 lợp mái tôn do cụ N1, cụ H7 xây dựng khi còn sống (diện tích, kích thước cụ thể thửa đất và các công trình trên đất được thể hiện tại kết quả đo đạc hiện trạng ngày 22/8/2023 của Công ty cổ phần X1).

  • Kết quả định giá tài sản, theo kết luận của Hội đồng định giá tài sản do tòa án thành lập kết luận: Thửa đất số 191, diện tích 430,7m² có tổng giá trị là: 430,7m² x 5.000.000đ/m² = 2.153.000.000đ; ngôi nhà cấp bốn lợp mái tôn diện tích 58m² do cụ H5, cụ N1 làm đã hết khấu hao nên không định giá; 02 ngôi nhà cấp bốn được xây dựng năm 1984 đã hết khấu hao không còn giá trị; sân lát gạch năm 2019 diện tích 78m² có đơn giá xây dựng là 175.000đ, giá trị còn lại là: (78 x 175.000): 2= 6.825.000đ; tường bao phía trước sân xây năm 2019 có đơn giá xây dựng 253.000đ/m² giá trị còn lại là 50%; ngôi nhà 02 tầng xây dựng trên đất có tổng diện tích 78,5m² x 2 = 156m² có giá trị còn lại là: 622.991.700đ; công trình phụ phía sau nhà 2 tầng lợp mái tôn diện tích 30m² có đơn giá xây dựng mới là 2.050.000đ/m² có giá trị còn lại là: 53.505.000đ.

Theo UBND phường A, thị xã T trình bày: Năm 1988 thực hiện chủ trương giao đất làm kinh tế hộ gia đình tại tờ khai xin cấp đất làm kinh tế hộ gia đình do cụ H5 kê và ký tên hộ gia đình cụ H5 có 07 nhân khẩu đang thực tế sử dụng 448m² đất, trong đó có 240m² đất ở và 208m² đất vườn. Căn cứ hiện trạng sử dụng đất của hộ gia đình và hạn mức đất ở được giao thấy trong phần diện tích đất ở của gia đình cụ H5 có 208m² đất vườn là vượt quá hạn mức đất ở được giao nên hội đồng xét giao đất làm kinh tế hộ gia đình của địa phương đã không giao thêm đất làm kinh tế cho hộ cụ H7, coi 208m² đất vườn trong thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02 đang do gia đình cụ H5 sử dụng là diện tích đất được giao làm kinh tế hộ gia đình cho các nhân khẩu trong hộ gia đình là: Cụ H5, cụ N1, ông H, bà C, anh H3, chị H4, chị X.

UBND thị xã T do người đại diện theo ủy quyền trình bày: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T, tỉnh Bắc Ninh cấp cho hộ ông Nguyễn Bá H có quyền sử dụng thửa số 191, tờ bản đồ số 02, diện tích 430,7m² đất tại phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh đã bị Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B hủy để cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bị mất, đề nghị giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và xét xử vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại Công văn số 1744/STNMT- TT ngày 08/8/2014 Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh B trình bày: Ngày 18/01/2022, Sở Tài Nguyên & Môi trường tỉnh B có Quyết định số 41/QĐ- STNMT về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Nguyễn Bá H năm 1998, đồng thời cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông Nguyễn Bá H và bà Nguyễn Thị C được sử dụng thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02, diện tích 430,7m² tại A, T, Bắc Ninh theo như Giải đáp tại khoản 2 mục 2 Công văn số 64/TANDTC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao thì thủ tục cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ ông Nguyễn Bá H là thủ tục hành chính, không phải là quyết định hành chính do vậy UBND tỉnh B và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B từ chối tham gia tố tụng.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2024/DS-ST ngày 21/9/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã quyết định: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Bá Á.

  1. Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T (nay là thị xã T, tỉnh Bắc Ninh) cấp ngày 23/12/1998 công nhận cho hộ ông Nguyễn Bá H được sử dụng thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02, diện tích 430,7m² tại phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh và ngày 18/01/2022 được Sở Tài nguyên & Môi trường tỉnh B cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất công nhận hộ ông Nguyễn Bá H và bà Nguyễn Thị C được sử dụng thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02, diện tích 430,7m² tại phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh.

  2. Sau khi trích trả công sức quản lý, trông nom di sản cho vợ chồng ông H, xác nhận di sản do cụ Nguyễn Bá H5 và cụ Nguyễn Thị N1 để lại sau khi chết là quyền sử dụng 157m² có giá trị là (157m² x 5.000.000đ = 785.000.000đ) và ngôi nhà cấp bốn trên đất diện tích 58m² (vị trí diện tích đất và công trình trên đất nằm cuối thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02 được giới hạn các điểm ABCDEF trên sơ đồ trong đó: Cạnh AB dài: 15,40m; cạnh AF dài: 4m; cạnh FE dài: 6,19m; cạnh ED dài: 15,40m; cạnh DC= 2,69m; cạnh CB dài: 7,50m. Chia thừa kế di sản do cụ H5, cụ N1 để lại cho những người thừa kế là ông H, ông Á, ông H2, bà L1, bà S1 và bà L của mỗi thừa kế được nhận kỷ phần như sau:

  3. Ông Á, ông H2, bà L1, bà L và bà S1 mỗi người thừa kế được nhận di sản do cụ H5, cụ N1 để lại là: 26,2m²/người, giá trị thừa kế mỗi người được nhận là: 26,2m² x 5.000.000đ = 131.000.000đ/người.

  4. Ông H được nhận tổng giá trị tài sản do cụ H5, cụ N1 để lại là: 43,7m², trong đó kỷ phần thừa kế được nhận là 26,2m², công lao trông nom, quản lý di sản là: 17,5m².

  • Giao cho ông Á, ông H2, bà L, bà L1, bà S1 được đồng sở hữu, sử dụng 131m² đất, trên đất có ngôi nhà cấp bốn diện tích 58m² (phần diện tích đất được giao nằm cuối thửa đất số 191, tờ bản đồ số 02 có địa chỉ tại phường A, thị xã T, tỉnh Bắc Ninh được giới hạn bằng các điểm A, B, C, C1, E1, F, trong đó cạnh AB dài: 15,40m; cạnh BC dài: 7,50m; cạnh CC1 dài: 1m; cạnh C1E1 dài 15,40m; cạnh E1F dài: 4,50m; cạnh FA dài: 4m (có sơ đồ kèm theo).

  • Giao cho ông Nguyễn Bá H được phần diện tích đất còn lại là 43,7m² trong đó phần hưởng di sản là: 26,2m², phần trích trả công sức quản lý di sản cho vợ chồng ông H do ông H đại diện nhận là: 17,5m². Phần đất ông H nhận và đại diện nhận được giới hạn bằng các điểm C1, D, E, E1 trên sơ đồ có vị trí và kích thước các cạnh như sau: Cạnh C1E1 nằm giáp với diện tích 131m² giao cho ông Á và các đồng thừa kế dài: 15,40m; cạnh C1D dài: 2,83m; cạnh DE nằm giáp với phần đất còn lại của thửa đất số 191 dài: 15,40m; cạnh EE1 dài: 2,83m (có sơ đồ kèm theo).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và thông báo quyền kháng cáo, nghĩa vụ thi hành án của đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 03/10/2024, bị đơn là ông Nguyễn Bá H có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 07/10/2024, nguyên đơn là ông Nguyễn Bá Á có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tải bản án:

Nguồn: Công bố bản án

Liên hệ ngay với chúng tôi nếu bạn đang cần hỗ trợ pháp lý, hãy liên hệ ngay với Công ty Luật Việt Nguyên ngay bây giờ để được tư vấn và giải quyết vướng mắc pháp lý liên quan đến kiện đòi tài sản một cách chuyên nghiệp và hiệu quả nhất. Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cung cấp cho bạn những giải pháp, pháp lý tốt nhất để đảm bảo quyền lợi của bạn.

Kết nối với Việt Nguyên – An tâm vững bước
Liên hệ ngay để được tư vấn 1:1 cùng chuyên gia:

📞 Hotline: 0936.39.29.79 – 0937.67.69.69

📍 Trụ sở chính: Số 41 Cách Mạng Tháng Tám, phường Long Khánh, T. Đồng Nai.

📍 Chi nhánh: Số 23 Nguyễn Du, P. Trấn Biên, T. Đồng Nai.

📘 Facebook: Công ty Luật Việt Nguyên

🌐 web: https://luatsudongnai.org/

✉️ Email: luatsutrangiap@gmail.com | 💬 Zalo: 0937.67.69.69 – 0936.39.29.79

Việt Nguyên – Nơi công lý được hiện thực hóa bằng tâm huyết và tri thức!