NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về Tranh Chấp Về Thừa Kế Tài Sản Và Yêu Cầu Tuyên Bố Văn Bản Công Chứng Vô Hiệu
[1]. Tại Văn bản thỏa thuận phân chia di sản và tặng cho tài sản ngày 21/4/2022, cụ Nguyễn Văn Đ cùng các con gồm ông Nguyễn Văn D, ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị L1 thỏa thuận, có nội dung: “Những người thừa kế có tên nêu trên thống nhất thỏa thuận phân chia di sản thừa kế của cụ N trong quyền sử dụng đất chung với cụ Đ…. Ông D được nhận toàn bộ thửa đất số 104; ông L được nhận toàn bộ các thửa đất số 78, 128, 132, 126. Như vậy, ông D, ông L là những người được nhận toàn bộ quyền sử dụng đất theo thỏa thuận nêu trên, được toàn quyền đứng tên trên giấy tờ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt toàn bộ quyền sử dụng đất nêu trên theo quy định của pháp luật”.
Bà L1 thừa nhận có ký vào văn bản này và văn bản này đã được công chứng hợp pháp tại Văn phòng C2. Điều này thể hiện ý chí của bà L1 là tặng cho phần di sản mà bà được hưởng cho ông L và ông D. Ông L và ông D lập thủ tục và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 78, 104, 126, 128, 132. Như vậy, việc tặng cho này đã hoàn thành tại thời điểm ông L và ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 503 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Do đó, việc Văn bản thỏa thuận này bỏ sót ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị T nhưng không thể phủ nhận việc bà L1 tặng cho phần di sản của mình cho ông L và ông D.
Việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm chia di sản cho bà L1 được hưởng (đã tặng cho ông L và ông D) là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông L và ông D.
[2]. Mặt khác, Tòa án cấp phúc thẩm còn cho rằng Văn bản thỏa thuận phân chia di sản và tặng cho tài sản ngày 21/4/2022 bị vô hiệu đối với phần phân chia di sản thừa kế; còn đối với phần tặng cho di sản thừa kế thì có hiệu lực nhưng lại chia di sản thừa kế cho bà L1 là mâu thuẫn, vì theo nội dung trong Văn bản này bà L1 đã thống nhất để ông D và ông L được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt toàn bộ di sản thừa kế của cụ N chết để lại.
[3]. Tại Bản tự khai ngày 31/7/2023, cụ Nguyễn Văn Đ là cha của ông D, ông L, bà T, bà L1 và ông S, xác định: “Cụ Đ không đồng ý hủy các văn bản thỏa thuận phân chia di sản và tặng cho tài sản…”.
[4]. Tại Biên bản hòa giải; biên bản họp kiểm tra giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cùng ngày 21/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, có nội dung: “Cụ Đ đồng ý tặng cho ông L toàn bộ tài sản của cụ Đ được hưởng trong khối tài sản chung với cụ Trần Thị N và kỷ phần cụ được nhận trong khối di sản cụ N để lại… Đề nghị Tòa án giao cho ông Nguyễn 9 Văn D được nhận hiện vật là thửa 104; ông Nguyễn Văn L nhận hiện vật là thửa 78, 126, 128, 132”.
[5]. Căn cứ “Đơn xin xác nhận” ngày 15/11/2024, của cụ Đ, có nội dung: “Do tuổi già sức yếu nên cụ Đ đã tặng cho ông L – con út trong gia đình ½ nhà đất kể cả phần thừa kế của cụ Đ đối với di sản của cụ N (chết) với mục đích để cụ Đ tiếp tục sử dụng ngôi nhà gắn liền với thửa đất số 78, 132 làm nơi thờ cúng ông bà tổ tiên và là nơi ở duy nhất lúc tuổi già, thuận tiện cho việc ông L chăm lo, phụng dưỡng cụ Đ. Đồng thời, cụ Đ tặng cho ½ nhà đất cho ông L là có ý nguyện sau khi cụ Đ chết ngôi nhà này là di sản dùng vào việc thờ cúng” và trên thực tế thì ông L là người chăm sóc cụ Đ; cụ Đ chỉ có chỗ ở duy nhất là căn nhà gắn liền trên thửa đất số 78, 132. Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm chia kỷ phần thừa kế của cụ N cho bà L1 và bà T được nhận là nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất số 78, 132 là ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông L và không đúng với ý chí, nguyện vọng của cụ Đ – là cha của các bên đương sự.
[6]. Trong quá trình giải quyết vụ án, bà T và bà L1 có lúc yêu cầu được nhận di sản thừa kế bằng hiện vật, có lúc yêu cầu được nhận bằng giá trị. Tuy nhiên, ngay từ khi khởi kiện vụ án bà T đã yêu cầu được hưởng bằng giá trị và tại phiên tòa phúc thẩm thì bà L1 và bà T đều yêu cầu được nhận di sản thừa kế bằng giá trị nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm lại chia di sản thừa kế cho bà T và bà L1 bằng hiện vật, cụ thể là ngôi nhà cấp 4 gắn liền với thửa đất số 78 và thửa đất số 132 là không đúng.
[7]. Hơn nữa, bà T đã có chỗ ở ổn định tại ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Long An. Vì vậy, có căn cứ xác định bà T không có nhu cầu sử dụng nhà đất tại Bình Dương và trên thực tế thì ông L là người ở cùng cụ Đ theo nguyện vọng của cụ Đ nhưng ông L lại không được chia phần nhà đất mà cụ Đ đang ở để chăm sóc cụ Đ, cũng như tài sản này theo nguyện vọng của cụ Đ sẽ dùng vào việc thờ cúng ông bà tổ tiên.
[8]. Từ những căn cứ nêu trên cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chia di sản thừa kế cho bà L1 là không đúng quy định của pháp luật; chia di sản bằng hiện vật cho bà T là không có căn cứ, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông L. Do đó, Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ chấp nhận. Trình bày lại để đăng web vẫn giữ nguyên nội dung câu chữ

