Nội Dung Vụ Án Dân Sự Về Chia Di Sản Thừa Kế
Trình Bày Của Nguyên Đơn
Theo đơn khởi kiện, biên bản hòa giải cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp tại Tòa và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Sang đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn ông Nguyễn Hữu Tài, bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng trình bày như sau:
Cha, mẹ các nguyên đơn là ông Nguyễn Văn Đại, sinh năm 1937 và bà Võ Thị Ba, sinh năm 1939. Ông Đại chết vào ngày 31/01/2008 và bà Ba chết vào ngày 13/02/2012. Ông Đại, bà Ba chết không để lại di chúc để định đoạt phần di sản của mình. Ông Đại, bà Ba có 04 người con chung gồm: Nguyễn Thị Mỹ Dung sinh năm 1960; Nguyễn Hữu Tài, sinh năm 1962; Nguyễn Thị Mỹ Phượng, sinh năm 1965 và Nguyễn Hữu Sang, sinh năm 1968. Vào ngày 08/9/1966, bà Võ Thị Ba có xác lập một tờ giấy tay với nội dung là mướn một căn phố, do bà Nguyễn Thị Mỹ cho thuê, tuy trong tờ giấy thuê nhà chỉ có một mình bà Võ Thị Ba đứng ra thuê, nhưng căn cứ vào chứng chỉ sống chung được xác lập ngày 20/6/1969, chứng nhận ông Nguyễn Văn Đại là chồng chính thức của bà Võ Thị Ba và ông Đại cùng với bà Ba có bốn người con.
Kể từ khi ông Đại, bà Ba thuê căn phố này các nguyên đơn đều sinh sống tại đây cho đến ngày hôm nay, đồng thời anh chị em các nguyên đơn cùng có đóng góp một phần công sức vào việc sửa chữa căn nhà này. Tuy diện tích chỉ khoảng 41,8m², thuộc thửa đất số 224, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại Phường 2, thị xã Bến Tre (nay là phường An Hội, thành phố Bến Tre), tỉnh Bến Tre. Vào ngày 16/10/2006 bà Nguyễn Thị Mỹ Dung âm thầm đứng ra kê khai phần đất này và bà Dung được ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Mỹ Dung và ngày 18/10/2006 bà Nguyễn Thị Mỹ Dung được Sở Xây dựng cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu toàn bộ căn nhà trên đất.
Các nguyên đơn khởi kiện buộc bà Nguyễn Thị Mỹ Dung, cùng với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan phải có nghĩa vụ chia di sản thừa kế đối với giá trị phần đất có diện tích 41,8m², thuộc thửa đất số 224, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại Phường 2, thị xã Bến Tre (nay là phường An Hội, thành phố Bến Tre), tỉnh Bến Tre và căn nhà gắn liền với phần đất này thành bốn phần bằng nhau.
Các nguyên đơn đồng ý với kết quả đo đạc và định giá.
Trình Bày Của Bị Đơn
Theo bản tự khai, biên bản hòa giải cùng các tài liệu, chứng cứ cung cấp tại Tòa và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn — ông Trương Quốc Trung trình bày như sau:
Trước giải phóng, căn nhà đang tranh chấp là do mẹ của bà Dung là bà Võ Thị Ba thuê mướn lại của bà Nguyễn Thị Mỹ. Sau giải phóng căn nhà này đã được nhà nước tiếp quản, bà Ba tiếp tục thuê mướn lại với công trình đô thị, do nhà đã xuống cấp, căn nhà này được nhà nước định giá bán lại cho bà Ba và bà Dung đã giúp tiền cho bà Ba mua lại căn nhà này. Việc mua nhà trả góp dần trong 10 năm theo giá vàng tại thời điểm nộp tiền.
Năm 2006, bà Ba làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu nhà đối căn nhà nêu trên. Đến ngày 19/6/2006, bà Ba được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AE 378993, số vào sổ HP2/00145, số thửa 224, tờ bản đồ 6, diện tích 41,8m², loại đất thổ cư lâu dài.
Thời điểm này bà Dung công tác tại Ngân hàng nên mọi công việc trong ngoài như nuôi dưỡng, chăm sóc cho cha mẹ già, các em, cháu, con cái, tiền chợ sinh hoạt hằng ngày… đều do một mình bà Dung lo liệu. Ông Sang lúc này đã có gia đình và 3 đứa con. Ông Sang sinh sống ở phường Phú Khương. Do mâu thuẫn vợ, chồng nên ông Sang và vợ đã ly hôn. Do không có nơi ở nên ông Sang nhập hộ khẩu về số nhà 49 để sinh sống. Sau khi kết hôn lần hai thì ông Sang dọn ra ngoài sinh sống. Ông Sang không đóng góp gì trong căn nhà này. Thời điểm bà Ba còn sống thì ông Tài không chăm lo cuộc sống nên bà Ba không tin tưởng giao nhà cho ông Tài. Bà Phượng lúc này sống cùng trong nhà. Bà Phượng cũng có công chăm sóc cha mẹ nhưng mọi vấn đề liên quan tới sức khỏe đều do bà Dung lo. Lúc này chồng bà Dung là ông Lê Quang Nhã cùng ở chung trong nhà này. Do tin tưởng nên vào ngày 29/9/2006 bà Ba đã làm thủ tục chuyển nhượng toàn bộ căn nhà và đất cho bà Dung. Khi tham gia làm thủ tục tại ủy ban nhân dân phường 2 (nay là phường An Hội), có bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng đi cùng và trong hợp đồng chuyển nhượng từ phần tổng giá trị chuyển nhượng và các thông tin khác trên hồ sơ chuyển nhượng đều do chính bà Phượng ghi chép thay bà Dung. Khi làm hợp đồng chuyển nhượng thì các anh, chị, em đều biết.
Ngày 16/10/2006, bà Dung được Ủy ban nhân dân thị xã Bến Tre cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có số phát hành AG 004065, số vào sổ HP2/ 00173, số thửa 224, tờ bản đồ 06, diện tích toàn bộ căn nhà là 41,8m².
Song song với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Sở xây dựng tỉnh Bến Tre cũng xem xét hồ sơ yêu cầu cấp chứng nhận sở hữu nhà đối với căn nhà nêu trên của vợ chồng bà Võ Thị Ba và đến ngày 18/10/2006 Sở xây dựng căn cứ Quyết định số: 202/QĐ-UB ngày 03/3/1992, cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà số 194/CN-XD cho bà Dung với nội dung cụ thể như sau: Chứng nhận cho bà Nguyễn Thị Mỹ Dung sinh năm 1960, thường trú tại 49, đường Lý Thường Kiệt, phường 2, thị xã Bến Tre (nay là phường An Hội, thành phố Bến Tre), tỉnh Bến Tre là chủ sở hữu ngôi nhà với các đặc điểm:
- Nhà chính, nhà phụ diện tích 41,8m²; số tầng: 2;
- Dài 9,8m, rộng 4,16m, diện tích 41,8m²;
- Nền gạch Ceramic, vách gạch, cột bê tông cốt thép, mái tole;
Từ đó, gia đình bà Dung cùng sinh sống trong căn nhà này.
Do vị trí căn nhà thuận tiện cho việc làm ăn, sinh sống nên hầu hết các nhân khẩu đều đăng ký địa chỉ thường trú trong căn nhà của bà Dung.
Ngày 29/09/2015, bà Dung đi định cư ở nước ngoài, căn nhà này hiện tại gia đình con trai bà Dung là ông Lê Minh Nhựt sinh sống cùng với ông Nguyễn Hữu Tài, riêng ông Nguyễn Hữu Sang có gia đình ra đi sinh sống với vợ con từ rất lâu và bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng cũng đã có nhà riêng dọn ra ngoài sinh sống không còn ở chung nữa.
Nay các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế đối với căn nhà và phần đất có diện tích 41,8m², thuộc thửa đất số 224, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre thì bà Dung không đồng ý. Đề nghị bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Bị đơn đồng ý với kết quả đo đạc và định giá.
Trình Bày Của Người Có Quyền Lợi, Nghĩa Vụ Liên Quan
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan — bà Lê Thị Ngọc Diễm, ông Nguyễn Hữu Đức cùng trình bày như sau: Thống nhất lời trình bày của nguyên đơn và không có ý kiến gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Lê Minh Nhựt, bà Tạ Thị Hỉền cùng trình bày như sau: Thống nhất lời trình bày của bị đơn và không có ý kiến gì khác.
Quyết Định Của Tòa Sơ Thẩm
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 13/2022/DS-ST ngày 30/3/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre quyết định:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 147, 157 và 165 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 631, 633, 634, 635, 649, 650, 652, 653, 654 và 662 Bộ luật dân sự năm 2005 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ƯBTVQH ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Tài, bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng, ông Nguyễn Hữu Sang về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Mỹ Dung chia thừa kế tài sản là phần đất thuộc thửa đất số 224, tờ bản đồ số 6, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre và căn nhà số 49, Lý Thường Kiệt, phường An Hội, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo luật định.
Kháng Cáo Và Phiên Tòa Phúc Thẩm
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ông Nguyễn Hữu Tài, ông Nguyễn Hữu Sang, bà Nguyễn Thị Mỹ Phượng kháng cáo, yêu cầu phúc xử sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận theo đơn khởi kiện của các nguyên đơn. Xử chia di sản thừa kế là nhà và đất tại số 49 đường Lý Thường Kiệt, Phường 2, thị xã Bến Tre (nay là phường An Hội, thành phố Bến Tre), tỉnh Bến Tre của ông Võ Văn Đại và bà Võ Thị Ba chết để lại. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Sang đại diện cho ông Tài và bà Phượng vẫn giữ theo yêu cầu kháng cáo nêu trên.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trương Quốc Trung đại diện cho bà Nguyễn Thị Mỹ Dung thì đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng việc bà Võ Thị Ba lập hợp đồng tặng cho QSDĐ với hình thức chuyển nhượng cho con là bà Nguyễn Thị Mỹ Dung không được sự đồng ý của ông Nguyễn Văn Đại, nên hợp đồng tặng cho trên vô hiệu một phần. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn, chia ½ giá trị đất (là phần di sản của ông Đại để lại) thành 05 kỷ phần cho 05 người là bà Võ Thị Ba, Nguyễn Thị Mỹ Dung, Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Hữu Sang, Nguyễn Thị Mỹ Phượng. Bà Dung được hưởng 02 kỷ phần (là phần của bà Ba và bà Dung), còn lại 03 kỷ phần thì ông Tài, ông Sang, bà Phượng được hưởng mỗi người 01 kỷ phần.Nội dung bản án:Bản án số: 90/2023/DS-PT Ngày: 01/03/2023 V/v “Tranh chấp di sản thừa kế”Nguồn: Congbobanan.vn
Liên hệ ngay với chúng tôi nếu bạn đang cần hỗ trợ pháp lý, hãy liên hệ ngay với Công ty Luật Việt Nguyên ngay bây giờ để được tư vấn và giải quyết vướng mắc pháp lý liên quan đến kiện đòi tài sản một cách chuyên nghiệp và hiệu quả nhất. Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cung cấp cho bạn những giải pháp, pháp lý tốt nhất để đảm bảo quyền lợi của bạn.
Kết nối với Việt Nguyên – An tâm vững bước
Liên hệ ngay để được tư vấn 1:1 cùng chuyên gia:📞 Hotline: 0936.39.29.79 – 0937.67.69.69
📍 Trụ sở chính: Số 41 Cách Mạng Tháng Tám, phường Long Khánh, T. Đồng Nai.
📍 Chi nhánh: Số 23 Nguyễn Du, P. Trấn Biên, T. Đồng Nai.
📘 Facebook: Công ty Luật Việt Nguyên
🌐 web: https://luatsudongnai.org/
✉️ Email: luatsutrangiap@gmail.com | 💬 Zalo: 0937.67.69.69 – 0936.39.29.79
Việt Nguyên – Nơi công lý được hiện thực hóa bằng tâm huyết và tri thức!

