Bản án số 73/2023/DS-PT tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2023

Bản án số 73/2023/DS-PT chuyển nhượng

Nhận định của Tòa án:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của NG đơn chị Phạm Thị PH nằm trong thời hạn luật định, nội dung kháng cáo nằm trong phạm vi bản án sơ thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về sự vắng mặt của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn anh Giang Trung NG và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Lê Quang V là luật sư Đặng Hồng PH và vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn X, bà Phạm Thị Nga, Văn phòng công chứng Phạm X Thùy nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt họ theo quy định.

[3] Xét kháng cáo của NG đơn chị Phạm Thị PH kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của NG đơn chị Phạm Thị PH yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là chị Phạm Thị PH, anh Lê Quang V và bên nhận chuyển nhượng là anh Giang Trung NG và chị Bùi Thị Thu Hương, hợp đồng công chứng tại Văn phòng công chứng Phạm X Thùy số 1782 ngày 07/06/2021 là vô hiệu, Hội đồng xét xử xét thấy:

[3.1] Về nguồn gốc: ông Lê Văn X và bà Phạm Thị Nga là bố mẹ của anh V có làm thủ tục tách một phần thửa đất của ông bà tại tổ 54, khu 6B, phường HP, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh cho chị PH và anh V. Chị PH và anh V đã hoàn tất thủ tục tặng cho, đất được tặng cho đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số CO 238535, do UBND thành phố Hạ Long cấp ngày 10/6/2019, mang tên Lê Quang V, Phạm Thị PH. Thửa đất được xác định thuộc thửa số 101, tờ bản đồ số 83 phường HP, địa chỉ tại tổ 54, khu 6B, phường HP, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; diện tích được cấp là: 242,6m2. Ngày 07/6/2021 tại Văn Phòng công chứng Phạm X Thùy, vợ chồng anh Giang Trung NG, chị Bùi Thị Thu Hương ký hợp đồng nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bên chuyển nhượng là vợ chồng anh Lê Quang V, chị Phạm Thị PH.

[3.2] Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng là chị Phạm Thị PH, anh Lê Quang V và bên nhận chuyển nhượng là anh Giang Trung NG và chị Bùi Thị Thu Hương, hợp đồng công chứng tại Văn phòng công chứng Phạm X Thùy số 1782 ngày 07/06/2021, Hội đồng xét xử xét thấy:

Tài liệu chứng cứ trong hồ sơ thể hiện: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được giao kết giữa bên chuyển nhượng là chị Phạm Thị PH, anh Lê Quang V và bên nhận chuyển nhượng là anh Giang Trung NG và chị Bùi Thị Thu

Hương, đối tượng của hợp đồng là quyền sử dụng thửa đất số 101, tờ bản đồ số 83 phường HP, địa chỉ tại tổ 54, khu 6B, phường HP, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh; diện tích được cấp là: 242,6m2. Hợp đồng được công chứng tại Văn phòng công chứng Phạm X Thùy số 1782 ngày 07/06/2021 sau đó được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan có thẩm quyền chứng nhận đăng ký chuyển nhượng ngày 21/6/2021, đăng ký biến động đất đai mang tên Giang Trung NG, Bùi Thị Thu Hương tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CO 238535, do UBND thành phố Hạ Long cấp ngày 10/6/2019 cho Lê Quang V, Phạm Thị PH.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở xác định:

Thứ nhất, quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, NG đơn chị Phạm Thị PH, người đại diện theo ủy quyền cũng như người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chị PH cho rằng toàn bộ giao dịch trên đều do bố, mẹ chồng chị PH là ông Lê Văn X và bà Phạm Thị Nga sắp đặt, chị PH không hề được biết, cũng không được bàn bạc, thống nhất trước, tham gia một cách bị động. Khi đó vì tin tưởng theo lời bố mẹ chồng, chị PH cũng vội đi làm nên không để ý tới nội dung văn bản. Dưới cương vị là con dâu, vì không muốn mất tình cảm với gia đình nhà chồng, nên chị PH thuận theo yêu cầu của chồng, bố mẹ chồng và tiến hành ký kết. Vì vậy, nhìn nhận chính xác ý chí chị PH thực hiện ký kết chỉ vì tình cảm với gia đình chồng là theo sự sắp đặt của ông bà X, Nga, nhưng ngoài lời khai của chị PH thì chị PH cũng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào để chứng minh cho lời khai của chị PH là bị lừa dối theo sự sắp đặt của ông bà X Nga nên không thuộc các trường hợp bị đe dọa, lừa dối theo quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân sự 2015. Còn tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện việc ký kết hợp đồng thì bên chuyển nhượng là anh V chị PH và bên nhận chuyển nhượng là anh NG chị Hương đều xác nhận đã ký Hợp đồng tại Văn phòng công chứng Phạm X Thùy ngày 07/6/2021. Việc chuyển nhượng đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan có thẩm quyền chứng nhận đăng ký chuyển nhượng ngày 21/6/2021. Tại thời điểm các bên giao kết hợp đồng các bên có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, người đại diện của anh V, của anh NG và chị Hương đều cho rằng giao kết là tự nguyện. Do đó xác định việc chị PH ký hợp đồng là tự nguyện.

Thứ hai, xét nội dung và hình thức của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/6/2021, Hội đồng xét xử xét thấy: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/6/2021 được công chứng tại Văn phòng công chứng Phạm X Thùy số 1782 ngày 07/06/2021 sau đó được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan có thẩm quyền chứng nhận đăng ký chuyển nhượng ngày 21/6/2021, đăng ký biến động đất đai mang tên Giang Trung NG, Bùi Thị Thu Hương đảm bảo các điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013; Điều 117, Điều 502 Bộ luật dân sự 2015, là các điều kiện để hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật đất đai năm 2013.

Thứ ba, NG đơn, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NG đơn cho rằng: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 1782, Quyển số 06/2021 TP/CC-CC/HĐGD ngày 07/06/2021 là giao dịch giả tạo nhằm che giấu giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá trị khác nên bị vô hiệu. Căn cứ NG đơn đưa ra đó là: trong một hợp đồng về chuyển nhượng quyền sử dụng đất, điều khoản về giá chuyển nhượng là một trong những nội dung cơ bản theo điểm c khoản 2 Điều 398 Bộ luật Dân sự 2015; hai hợp đồng tuy có cùng một đối tượng nhưng nếu có giá trị chuyển nhượng khác nhau thì sẽ là hai giao dịch khác nhau. Mặt khác, người đại diện của anh V và người đại diện của anh NG đều đã có ý kiến về số tiền chuyển nhượng thực tế giữa hai bên là 600.000.000đ, không phải là 50.000.000đ. Tuy nhiên, giá 600.000.000đ cũng không phù hợp với giá thực tế trên thị trường tại thời điểm giao dịch. NG đơn vẫn khẳng định giá giao dịch diện tích 170m2 đất ở đô thị và 72,6m2 đất trồng cây lâu năm là 4.500.000.000đ. Như vậy xác định giá ghi trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được công chứng ngày 07/06/2021 là 50.000.000đ giữa ông Giang Trung NG – bà Bùi Thị Thu Hương với ông Lê Quang V – Phạm Thị PH là giả tạo nhằm che giấu hợp đồng có giá cao hơn là 600.000.000đ (để chịu thuế thấp). Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 1782, Quyển số 06/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/06/2021 không phải là giao dịch được xác lập theo thỏa thuận thực tế của bố mẹ chồng chị PH, chồng chị PH và vợ chồng anh Giang Trung NG – chị Bùi Thị Thu Hương. Ngoài giao dịch được công chứng thì còn tồn tại một giao dịch khác bị che giấu với mức giá chuyển nhượng cao hơn rất nhiều so với hợp đồng đã ký. Chị PH là một trong các bên tham gia giao dịch cũng không đồng ý với mức giá giao dịch là 600.000.000đ như lời khai của anh V và vợ chồng anh NG chị Hương. Mặc dù những người này (trừ bà PH) đều khẳng định rằng ông V đã nhận đủ số tiền chuyển nhượng theo thỏa thuận là 600.000.000đ từ ông NG, tuy nhiên, các bên lại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ xác định giá thật của hợp đồng chuyển nhượng. Từ đó thấy rằng, các bên gồm chị PH, anh V, anh NG, chị Hương đang không thống nhất về giá thực tế chuyển nhượng, không có đầy đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh về giá thật của giao dịch. Theo khoản 2 Điều 433 Bộ luật Dân sự 2015 quy định giá và PH thức thanh toán: Trường hợp không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng về giá, PH thức thanh toán thì giá được xác định theo giá thị trường, PH thức thanh toán được xác định theo tập quán tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng. Do vậy, áp dụng khoản 1 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015 và Quyết định giám đốc thẩm số 03/2020/DS-GĐT ngày 16/01/2020 của Tòa án nhân dân tối cao đủ cơ sở xác định Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số: 1782, Quyển số 06/2021 TP/CCSCC/HĐGD ngày 07/06/2021 vô hiệu toàn bộ.

Đánh giá lời khai, các căn cứ phía NG đơn đưa ra để chứng minh Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/6/2021 vô hiệu, cụ thể hợp đồng ghi giá chuyển nhượng là 50.000.000 đồng là giả tạo, sự giả tạo này nhằm che giấu giao dịch giá bán thực tế lớn hơn rất nhiều. Hội đồng xét xử xét thấy, NG đơn cho rằng nội dung hợp đồng có sự giả tạo, nhưng NG đơn cũng xác nhận giao dịch ghi trong hợp đồng vẫn là giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng chính thửa đất số 101 tờ bản đồ số 83 phường HP, chứ không phải che giấu một giao dịch khác; hợp đồng ghi giá thấp hơn để trốn tránh trách nhiệm chia tài sản chung cho chị PH, thì chị PH cũng là người tham gia ký hợp đồng, nên chị PH không phải người thứ 3 bị che giấu, còn có mục đích trốn tránh trách nhiệm chia tài sản cho chị PH khi chị PH và anh V ly hôn hay không thì không thuộc phạm vi giải quyết trong vụ án này; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NG đơn có quan điểm: anh V và vợ chồng anh NG chị Hương cố tình thỏa thuận ghi nhận một mức giá chuyển nhượng thấp hơn so với mức giá chuyển nhượng thực tế nhằm giảm tiền thuế, phí phải nộp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba – Nhà nước nên Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/06/2021 là giao dịch giả tạo, bị vô hiệu theo khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự 2015. Xét thấy, khi tính thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với Nhà nước, Cơ quan thuế không chỉ căn cứ vào giá ghi trong hợp đồng mà căn cứ vào giá theo quy định để tính thuế phải nộp. Do vậy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/6/2021 ghi giá chuyển nhượng là 50.000.000đồng, giá này đúng là thấp hơn hẳn giá thực tế hai bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho nhau, nhưng nội dung này không thuộc trường hợp giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác; hoặc giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với người thứ 3, không thuộc trường hợp nào quy định tại khoản 1, hoặc khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự năm 2015. Như vậy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/6/2021 được công chứng tại Văn phòng công chứng Phạm X Thùy số 1782 ngày 07/06/2021 sau đó được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất là cơ quan có thẩm quyền chứng nhận đăng ký chuyển nhượng ngày 21/6/2021, đăng ký biến động đất đai mang tên Giang Trung NG, Bùi Thị Thu Hương là đúng chủ thể, đúng đối tượng, các bên ký hợp đồng đều tự nguyện, hình thức đảm bảo đúng quy định của Bộ luật Dân sự và Luật đất đai.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NG đơn cho rằng: hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực từ thời điểm đăng ký là khi hợp đồng không có vi phạm nào khác theo quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch, nên điều kiện có hiệu lực phải tuân thủ đầy đủ theo quy định tại khoản 1 Điều 117 Bộ luật dân sự 2015. Đối chiếu quy định trên thì Hội đồng xét xử sơ thẩm không đánh giá và xác định giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa chị PH anh V với anh NG chị Hương có hiệu lực hay không mà nhận định là giao dịch có hiệu lực pháp luật. Giao dịch mà cả hai bên ký kết hợp đồng đều thừa nhận giá 50.000.000đ ghi trong hợp đồng không phải là giá thật thì không thể công nhận hợp đồng này có hiệu lực, vi phạm điểm c khoản 1 Điều 117 Bộ luật Dân sự. Hội đồng xét xử xét thấy: nội dung Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/6/2021 không thuộc trường hợp là giả tạo theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 124 Bộ luật Dân sự, không thuộc trường hợp vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội; không bị nhầm lẫn; không bị lừa dối, hoặc bị đe dọa, cưỡng ép theo quy định tại Điều 123; 126,127 Bộ luật Dân sự, vì vậy yêu cầu của NG đơn về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu là không có căn cứ, không được chấp nhận.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NG đơn và NG đơn cũng như người đại diện theo ủy quyền của NG đơn còn cho rằng: anh NG là bên nhận chuyển nhượng không trả tiền cho bên chuyển nhượng là chị PH, mà trả tiền cho ông bà X Nga số tiền là 4,5 tỷ đồng, hoặc trả tiền cho anh V mà không có sự ủy quyền của chị PH, nên anh NG đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền đối với chị PH. Để chứng minh cho nội dung ông bà X, Nga là người nhận số tiền 4,5 tỷ do anh NG trả, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NG đơn đưa ra các chứng cứ chứng minh đó là: anh V và đại diện theo ủy quyền của anh V khai rằng sử dụng số tiền chuyển nhượng đất để chi tiêu cuộc sống sinh hoạt gia đình nhưng anh V cũng không đưa ra được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh cho lời khai này. Bản thân chị PH không được nhận và không được sử dụng số tiền chuyển nhượng đất. Trên thực tế, trong quá trình sinh sống chung, nhiều lần anh V có thực hiện đánh bạc dẫn đến nợ nần. Vi bằng số 33/2023/VB-TPLHL ghi nhận nội dung cuộc ghi âm ngày 27/05/2022 giữa bà Thanh và vợ chồng ông X, bà Nga thể hiện việc đánh bạc, nợ nần của anh V được ông X bà Nga là bố mẹ của anh V xác nhận nhiều lần. Luật sư có quan điểm xác định đây là căn cứ hợp lý thể hiện sự kiện chuyển nhượng do sự sắp đặt của bố mẹ chồng chị PH là ông X bà Nga đưa ra lý do hợp lý nhưng không đúng sự thật nhằm lừa dối chị PH để chị PH tin mà giao kết hợp đồng chuyển nhượng và số tiền chuyển nhượng thu được sẽ sử dụng để trả nợ nần cờ bạc cho anh V. Do đó, Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số ngày 07/06/2021 là giao dịch vô hiệu do chị Phạm Thị PH bị lừa dối. Luật sư của NG đơn cũng khẳng định giá bán thực tế không thể thấp hơn là giá bồi thường của Nhà nước khi thu hồi đất, nên việc nhận tiền phải là ông bà X, Nga và giá thực tế thời điểm chuyển nhượng là 4,5 tỷ mới phù hợp. Trong khi đó người đại diện của anh NG và anh V đều thống nhất trình bày: số tiền chuyển nhượng thửa đất do hai bên thỏa thuận là 600.000.000 đồng, anh NG đã trả đủ cho anh V; nội dung này phù hợp nội dung ông bà X Nga xác nhận ông bà không liên quan gì và việc chuyển nhượng thửa đất là do con của ông bà là anh V chị PH thực hiện.

Xét lời khai của các bên đương sự, đánh giá quan điểm, chứng cứ của hai bên đương sự trình bày, Hội đồng xét xử thấy: quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NG đơn cho rằng anh NG trả tiền cho ông bà X Nga và trả số tiền 4,5 tỷ đồng nhưng NG đơn không đưa ra được các tài liệu, chứng cứ chứng minh lời khai này. Trong khi người đại diện của anh NG và anh V xác nhận anh NG đã trả tiền cho anh V, vì vậy quan điểm của luật sư bảo vệ cho NG đơn về nội dung này là không có cơ sở, nên không được chấp nhận. NG đơn cho rằng, thửa đất 101 thuộc quyền sử dụng chung của hai vợ chồng anh V chị PH. Việc chuyển nhượng tài sản chung là bất động sản của vợ chồng phải được sự đồng thuận của cả hai theo quy định tại khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Xét thấy, thời điểm anh NG trả tiền cho anh V, khi đó chị PH và anh V là vợ chồng, chế định tài sản chung của vợ chồng là tài sản chung hợp nhất, vợ chồng có quyền và nghĩa vụ liên đới đối với tài sản chung của mình, vì vậy anh NG trả đủ tiền cho anh V thì anh NG đã thực hiện xong nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng đối với vợ chồng anh V chị PH là bên chuyển nhượng theo quy định tại điều 289 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, quan điểm của NG đơn cho rằng anh NG vi phạm nghĩa vụ trả tiền là nghĩa vụ của bên nhận chuyển nhượng là không có cơ sở, không được chấp nhận. Vì vậy trường hợp NG đơn yêu cầu tuyên bố hủy hợp đồng với căn cứ do bên bị đơn vi phạm nghĩa vụ hợp đồng như trình bày trong đơn khởi kiện cũng không có căn cứ, cũng không được chấp nhận. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của NG đơn về việc yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bên chuyển nhượng: Phạm Thị PH và Lê Quang V, bên nhận chuyển nhượng: Giang Trung NG và Bùi Thị Thu Hương tại Hợp đồng công chứng số 1782 ngày 07/6/2021 tại Văn phòng công chứng Phạm X Thùy vô hiệu là có căn cứ.

[4] Do yêu cầu khởi kiện của NG đơn về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu không được chấp nhận nên hợp đồng không bị vô hiệu vì vậy hậu quả hợp đồng vô hiệu không xảy ra, nên yêu cầu kháng cáo giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu buộc anh Giang Trung NG và chị Bùi Thị Thu Hương phải có nghĩa vụ trả lại chị PH anh V diện tích đất 242,6m2 thuộc thửa đất số: 101 tờ bản đồ số: 83; theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 07/6/2021 không được chấp nhận. Còn đối với yêu cầu tuyên hủy phần đăng ký biến động đất đai mang tên ông Giang Trung NG – bà Bùi Thị Thu Hương theo hợp đồng nêu trên, đã được văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Hạ Long đăng ký, yêu cầu này là hệ quả trong việc giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, trong phạm vi giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, do yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu không được chấp nhận, nên yêu cầu này cầu này cũng không được chấp nhận. Vì vậy, không chấp nhận nội dung yêu cầu kháng cáo của NG đơn chị Phạm Thị PH.

Từ những phân tích và nhận định trên Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của NG đơn là có căn. Do đó không chấp nhận nội dung kháng cáo của NG đơn chị Phạm Thị PH.

[5] Xem xét bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy: phần quyết định của bản án sơ thẩm không áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự và Luật Đất đai là thiếu sót như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phần nhận định bản án sơ thẩm đã viện dẫn các quy định của pháp luật liên quan đến giao dịch dân sự, hiệu lực của giao dịch dân sự, các điều kiện để Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có hiệu lực pháp luật theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật đất đai năm 2013 nên thiếu sót này không làm thay đổi, ảnh hưởng đến bản chất nội dung vụ án. Do đó cấp phúc thẩm sẽ bổ sung đúng quy định, vì vậy không cần thiết phải sửa bản án sơ thẩm song Tòa án cấp sơ thẩm cũng nghiêm túc rút kinh nghiệm.

[6] Ngoài ra, trong quá trình giải quyết vụ án, anh Lê Quang V đều thừa nhận đã nhận số tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 600.000.000đ, chị PH thì không thừa nhận đã nhận số tiền chuyển nhượng này. Xét thấy, đây là tài sản chung của vợ chồng anh V chị PH trong thời kỳ hôn nhân. Anh V khai đã nhận 600.000.000đ và đã chi tiêu chung cho gia đình nhưng nội dung này không nằm trong phạm vi giải quyết vụ án này nên xác định chị Phạm Thị PH có quyền yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn với anh V nếu có yêu cầu.

[7] Về án phí:

[7.1] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của NG đơn không được chấp nhận toàn bộ, nên NG đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu và án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch đối với yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu không được chấp nhận.

[7.2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của NG đơn nên NG đơn chị Phạm Thị PH phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

[8] Chi phí tố tụng: chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đã chi phí thực tế hết 5.000.000đồng (năm triệu đồng) trong số tiền NG đơn đã nộp tạm ứng, NG đơn có quan điểm tự chịu chi phí này, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

[9] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tại phiên tòa phúc thẩm có quan điểm giải quyết vụ án không chấp nhận nội dung yêu cầu kháng cáo của NG đơn chị Phạm Thị PH là có căn cứ nên chấp nhận

Liên hệ ngay với chúng tôi nếu bạn đang cần hỗ trợ pháp lý, hãy liên hệ ngay với Công ty Luật Việt Nguyên ngay bây giờ để được tư vấn và giải quyết vướng mắc pháp lý liên quan đến kiện đòi tài sản một cách chuyên nghiệp và hiệu quả nhất. Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cung cấp cho bạn những giải pháp, pháp lý tốt nhất để đảm bảo quyền lợi của bạn.

Kết nối với Việt Nguyên – An tâm vững bước
Liên hệ ngay để được tư vấn 1:1 cùng chuyên gia:

📞 Hotline: 0936.39.29.79 – 0937.67.69.69

📍 Trụ sở chính: Số 41 Cách Mạng Tháng Tám, P. Xuân An, TP. Long Khánh, T. Đồng Nai.

📍 Chi nhánh: Số 23 Nguyễn Du, P. Bửu Long, TP. Biên Hòa, T. Đồng Nai.

📘 Facebook: Công ty Luật Việt Nguyên

🌐 web: https://luatsudongnai.org/

✉️ Email: luatsutrangiap@gmail.com | 💬 Zalo: 0937.67.69.69 – 0936.39.29.79

Việt Nguyên – Nơi công lý được hiện thực hóa bằng tâm huyết và tri thức!