Bản án số: 485/2026/DS-PT Ngày: 28/5/2026 V/v: “Tranh chấp dân sự về hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”

Bản án số: 485/2026/DS-PT Ngày: 28/5/2026 V/v: “Tranh chấp dân sự về hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

V/v: “Tranh chấp dân sự về hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp

Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là tranh chấp dân sự về “Hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản” là có căn cứ.

[2] Về thời hạn kháng cáo

Ngày 26/9/2025, Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp ban hành Bản án số 300/2025/DS-ST. Đến ngày 06/10/2025, bà Trần Thị Bạch V là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo.

Như vậy, kháng cáo của bà V được thực hiện trong thời hạn theo quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm thông thường.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà V

Hội đồng xét xử nhận thấy:

[3.1] Về hợp đồng ủy quyền

Đối với Hợp đồng ủy quyền số công chứng 008594, quyển số 09/2023TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C, theo đó bà Nguyễn Thị Thùy L và ông Phan Thanh T ủy quyền cho ông Nguyễn Thành Đ:

  • Về hình thức: Hợp đồng được lập thành văn bản theo đúng mẫu quy định và được công chứng, nên bảo đảm về mặt hình thức.
  • Về nội dung: Các bên tham gia hoàn toàn tự nguyện, đã được giải thích về quyền và nghĩa vụ của mình. Nội dung ủy quyền không vi phạm quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực kể từ ngày công chứng.

[3.2] Về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

Đối với Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 008597, quyển số 09/2023TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C, về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 722, tờ bản đồ số 13 và thửa đất số 676, tờ bản đồ số 13, cùng tọa lạc tại ấp X, xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp X, xã L, tỉnh Đồng Tháp), được ký giữa ông Nguyễn Thành Đ là đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thùy L, ông Phan Thanh T và bà Trần Thị Bạch V, Hội đồng xét xử nhận thấy:

  • Về hình thức: Hợp đồng được lập thành văn bản theo đúng mẫu quy định và được công chứng, nên bảo đảm về mặt hình thức.
  • Về nội dung: Ngày 05/6/2023, bà Nguyễn Thị Thùy L và ông Phan Thanh T đã ký Hợp đồng ủy quyền số 008594, ủy quyền cho ông Nguyễn Thành Đ được toàn quyền định đoạt đối với hai thửa đất số 722 và 676.

Sau đó, ông Nguyễn Thành Đ ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 008597 ngày 05/6/2023 để chuyển nhượng hai thửa đất số 722 và 676 cùng tài sản trên đất cho bà Trần Thị Bạch V với giá 1.000.000.000 đồng. Bà V đã thanh toán đủ số tiền này cho ông Đ.

Tại thời điểm ký hợp đồng chuyển nhượng, Hợp đồng ủy quyền số 008594 ngày 05/6/2023 vẫn còn hiệu lực và không bị tranh chấp tại Tòa án.

Đại diện theo ủy quyền của bà V là ông D xác định bà V khi nhận chuyển nhượng đất có đến xem đất và có thỏa thuận miệng về việc chuyển nhượng tài sản trên đất gồm căn nhà và công trình chuồng trại. Do thỏa thuận bằng miệng nên không cung cấp được văn bản chứng minh.

Bà V đã chuyển khoản cho ông Đ số tiền 560.000.000 đồng, số tiền còn lại thanh toán bằng tiền mặt. Ngoài giao dịch này, giữa bà V và ông Đ không có giao dịch nào khác.

Ông Đ thừa nhận tại bản tự khai rằng đã nhận của bà V tổng cộng 1.000.000.000 đồng, gồm vốn vay và lãi. Tuy nhiên, ông Đ không có tài liệu, chứng cứ chứng minh số tiền trên là tiền vay. Trong khi đó, cùng ngày ông Đ nhận tiền từ bà V, ông đã ký hợp đồng chuyển nhượng hai thửa đất số 722 và 676 cho bà V.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà L và ông T đến nay bà V vẫn đang giữ. Việc chưa thực hiện được thủ tục sang tên là do bà L có yêu cầu ngăn chặn tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện G.

Do đó, có căn cứ xác định giữa ông Đ và bà V có xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất số 722 và 676 đang tranh chấp, không có căn cứ xác định các bên xác lập hợp đồng vay tài sản.

Theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/4/2024, trên hai thửa đất số 722 và 676 có căn nhà và chuồng trại. Do các bên không có thỏa thuận chuyển nhượng nhà và chuồng trại nên hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được, dẫn đến hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 408 Bộ luật Dân sự.

[3.3] Về việc cho rằng hợp đồng chuyển nhượng nhằm che giấu hợp đồng vay

Đối với việc nguyên đơn bà L và bị đơn ông Đ cho rằng ông Đ ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 008597 với bà V nhằm che giấu hợp đồng vay tiền giữa ông Đ và bà V, Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ.

Bà L, ông T và ông Đ không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh giữa ông Đ và bà V có xác lập quan hệ vay tiền hoặc việc ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhằm bảo đảm cho hợp đồng vay. Nội dung này cũng không được phía bà V thừa nhận.

[3.4] Về trách nhiệm của các bên khi hợp đồng vô hiệu

Cấp sơ thẩm chỉ buộc ông Đ trả tiền vay cho bà V là chưa thỏa đáng.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông T thừa nhận ông và bà L ủy quyền cho ông Đ thay mặt ông, bà chuyển nhượng hai thửa đất số 722 và 676. Việc ủy quyền xuất phát từ việc ông Đ là người làm môi giới bất động sản, am hiểu việc mua bán.

Hợp đồng ủy quyền giữa ông T, bà L với ông Đ có hiệu lực tại thời điểm ông Đ ký hợp đồng chuyển nhượng hai thửa đất cho bà V.

Sau khi chuyển nhượng đất, ông Đ đã giao cho bà L 500.000.000 đồng. Do đó, bà L, ông T và ông Đ phải liên đới chịu trách nhiệm đối với việc ông Đ ký hợp đồng chuyển nhượng đất với bà V.

Cụ thể, bà L và ông T phải cùng ông Đ có trách nhiệm hoàn trả số tiền chuyển nhượng đã nhận và bồi thường thiệt hại cho bà V do hợp đồng bị vô hiệu.

[3.5] Về yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng

Nguyên đơn bà L yêu cầu hủy hợp đồng ủy quyền và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà L, ông T do ông Đ đại diện ký với bà V. Ông Đ đồng ý với yêu cầu này.

Hợp đồng chuyển nhượng bị vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của bà L có cơ sở để chấp nhận.

[3.6] Về giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu

Các bên đều biết trên đất có nhà và chuồng trại nhưng không có thỏa thuận về việc chuyển nhượng các tài sản này. Đây là nguyên nhân dẫn đến hợp đồng vô hiệu do có đối tượng không thể thực hiện được.

Hội đồng xét xử xác định cả hai bên đều có lỗi ngang nhau dẫn đến hợp đồng vô hiệu và mỗi bên phải chịu 50% thiệt hại thực tế xảy ra.

Do hợp đồng vô hiệu, bà L, ông T và ông Đ có trách nhiệm liên đới:

  • Hoàn trả cho bà V số tiền chuyển nhượng đã nhận: 1.000.000.000 đồng;
  • Bồi thường 50% thiệt hại thực tế cho bà V.

Theo kết quả định giá ngày 04/4/2024, giá trị quyền sử dụng đất của hai thửa đất số 722 và 676 là:

5.000.000 đồng/m² × 608,5 m² = 3.042.500.000 đồng.

Sau khi trừ số tiền 1.000.000.000 đồng phải hoàn trả cho bà V, phần chênh lệch là:

3.042.500.000 đồng – 1.000.000.000 đồng = 2.042.500.000 đồng.

50% thiệt hại mà bà V được bồi thường là:

2.042.500.000 đồng × 50% = 1.021.250.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền bà L, ông T và ông Đ phải liên đới trả và bồi thường cho bà V là:

1.000.000.000 đồng + 1.021.250.000 đồng = 2.021.250.000 đồng.

Do bà V chưa nhận đất nên không buộc bà V giao trả đất cho bà L và ông T.

Ghi nhận việc bà V tự nguyện giao lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hai thửa đất số 722 và 676 khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[3.7] Về kết quả giải quyết kháng cáo

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Bạch V, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 300/2025/DS-ST ngày 26/9/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Đồng Tháp.

Theo đó:

  • Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thùy L.
  • Hủy bỏ Hợp đồng ủy quyền số công chứng 008594, quyển số 09/2023TP/CC-SCC/HĐGD, được công chứng tại Văn phòng C, về việc bà Nguyễn Thị Thùy L và ông Phan Thành T2 ủy quyền cho ông Nguyễn Thành Đ ngày 05/6/2023.
  • Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 008597, quyển số 09/2023TP/CC-SCC/HĐGD của Văn phòng C đối với hai thửa đất số 722676 là vô hiệu.

Đối với yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Bạch V, chấp nhận một phần và buộc bà Nguyễn Thị Thùy L, ông Phan Thanh T và ông Nguyễn Thành Đ liên đới trả cho bà V 1.000.000.000 đồng tiền chuyển nhượng đất và 1.021.250.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại, tổng cộng 2.021.250.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Ghi nhận việc bà V trả lại bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất số 722 và 676 khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về án phí dân sự sơ thẩm, bà V là người cao tuổi nên được miễn án phí. Ông Đ phải chịu riêng 600.000 đồng án phí đối với hai yêu cầu của nguyên đơn bà L; đồng thời ông Đ phải liên đới cùng bà L và ông T2 chịu án phí có giá ngạch đối với số tiền 2.021.250.000 đồng có nghĩa vụ liên đới trả cho bà V.

[4] Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Hội đồng xét xử nhận thấy ý kiến này có căn cứ pháp luật, phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm

Bà Trần Thị Bạch V được chấp nhận một phần kháng cáo nên không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được miễn tạm ứng án phí.

[6]

Các quyết định khác của Bản án dân sự sơ thẩm không liên quan đến nội dung kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Đọc và tải bản án: Bản án số: 485/2026/DS-PT Ngày: 28/5/2026 V/v: “Tranh chấp dân sự về hợp đồng ủy quyền, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng vay tài sản”

Liên hệ ngay với chúng tôi nếu bạn đang cần hỗ trợ pháp lý, hãy liên hệ ngay với Công ty Luật Việt Nguyên ngay bây giờ để được tư vấn và giải quyết vướng mắc pháp lý  cách chuyên nghiệp và hiệu quả nhất. Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cung cấp cho bạn những giải pháp, pháp lý tốt nhất để đảm bảo quyền lợi của bạn.

Kết nối với Việt Nguyên – An tâm vững bước
Liên hệ ngay để được tư vấn 1:1 cùng chuyên gia:

📞 Hotline: 0936.39.29.79 – 0937.67.69.69

📍 Trụ sở chính: Số 41 Cách Mạng Tháng Tám, phường Long Khánh, Tp. Đồng Nai.

📍 Chi nhánh: Số 23 Nguyễn Du, P. Trấn Biên, Tp. Đồng Nai.

📘 Facebook: Công ty Luật Việt Nguyên

🌐 web: https://luatsudongnai.org/

✉️ Email: luatsutrangiap@gmail.com | 💬 Zalo: 0937.67.69.69 – 0936.39.29.79

Việt Nguyên – Nơi công lý được hiện thực hóa bằng tâm huyết và tri thức!