Bản án số: 848/2026/DS-PT Ngày 29-4-2026 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Bản án số: 848/2026/DS-PT Ngày 29-4-2026 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Nhận định của Tòa án về vụ việc Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 15, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Đơn kháng cáo của nguyên đơn bà L được thực hiện trong thời hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.3] Bị đơn bà Đoàn Thị Kim H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thu H1, ông Trà Bảo H2 có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền 6.700.000.000 đồng còn nợ và lãi suất 10%/năm từ ngày 31/5/2024 đến thời điểm xét xử sơ thẩm.

Bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền 2.726.249.978 đồng và đồng ý trả số tiền này cho nguyên đơn. Riêng đối với số tiền 2.980.600.000 đồng là tiền lời phát sinh từ việc nguyên đơn cho vay để đáo hạn các khoản vay tài ngân hàng thì bị đơn không đồng ý vì các bên không có thỏa thuận, tiền lời các giao dịch bị đơn đã trả từng lần cho nguyên đơn. Đối với số tiền 1.000.000.000 đồng bị đơn trả nguyên đơn thông qua hình thức bà Trần Thu H1 chuyển qua tài khoản ông Trà Bảo H2 là do nguyên đơn yêu cầu bị đơn chuyển trả bị đơn thông qua tài khoản Trà Bảo H2 nên phải được cấn trừ vào số tiền bị đơn còn nợ nguyên đơn.

[3] Xét kháng cáo của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc: nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh các bên có thỏa thuận số tiền 2.980.600.000 đồng là tiền lời phát sinh từ các giao dịch cho vay để bị đơn cung cấp cho các khách hàng để đáo hạn ngân hàng. Qua tin nhắn zalo và sao kê tài khoản do nguyên đơn và bị đơn cung cấp thể hiện bị đơn có nhiều lần chuyển tiền lời, chi phí cho nguyên đơn sau mỗi giao dịch chuyển giao tiền giữa hai bên nên có căn cứ xác định lời khai của bị đơn là phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền 2.980.600.000 đồng là có căn cứ.

Đối với số tiền 1.000.000.000 đồng bà Trần Thu H1 chuyển qua tài khoản ông Trà Bảo H2 ngày 15/4/2024: căn cứ lời khai của bà Trần Thu H1 về việc bà H1 chuyển vào tài khoản Trà Bảo H2 theo yêu cầu của ông T1 là phù hợp với giao dịch chuyển tiền ngày 15/4/2024 từ tài khoản của bà H1 vào tài khoản của ông H2, phù hợp giao dịch chuyển tiền ngày 15/4/2024 từ tài khoản của ông H2 cho bà L (bút lục 316), nội dung giao dịch ghi “chuyen tien lai cho chi linh tu tran thi thu ha”, “chuyen tien cho chi linh den tu tran thu ha”. Do đó, lời khai của bị đơn về việc bị đơn chuyển số tiền 1.000.000.000 đồng cho nguyên đơn thông qua tài khoản của bà Trần Thu H1 đến tài khoản ông Trà Bảo H2 là có căn cứ. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền này là không có căn cứ chấp nhận. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần này là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.

[4] Xét kháng cáo của nguyên đơn đối với số tiền lãi:

Giữa các bên không có hợp đồng vay, không thỏa thuận thời hạn trả và không có chứng cứ xác định các bên có thỏa thuận về tiền lãi nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định hợp đồng giữa các bên là hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn, không lãi suất là có căn cứ. Trước khi khởi kiện nguyên đơn cũng không có văn bản thông báo yêu cầu bị đơn trả tiền.

Theo đơn khởi kiện ban đầu và 02 lần khởi kiện bổ sung, nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi chậm trả. Đến ngày 09/9/2025, nguyên đơn mới có đơn khởi kiện bổ sung lần 3 yêu cầu bị đơn trả tiền lãi từ ngày 31/5/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm với mức lãi suất là 10%/năm trên số tiền gốc 7.200.000.000 đồng (bút lục 204).

Xét thấy, theo khoản 1 Điều 469 Bộ luật Dân sự quy định “Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Khoản 3 Điều 6 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về Thời gian chậm trả hướng dẫn tại các điều 3, 4 và 5 Nghị quyết này được xác định như sau:

“a) Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn thì thời gian chậm trả nợ gốc bắt đầu kể từ ngày tiếp theo liền kề của ngày hết “thời gian hợp lý” đến thời điểm xét xử sơ thẩm. “Thời gian hợp lý” quy định tại Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 1995, Điều 477 của Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 469 của Bộ luật Dân sự năm 2015 do Tòa án căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định nhưng không quá 03 tháng kể từ ngày thông báo”.

Xét thấy, mặc dù nguyên đơn không có văn bản thông báo cho bị đơn trả nợ tuy nhiên, nguyên đơn đã có đơn khởi kiện đối với bị đơn để yêu cầu bị đơn trả nợ được xem như thông báo đòi nợ của nguyên đơn đối với bị đơn. Mặc dù bị đơn thừa nhận có nợ nguyên đơn số tiền 2.726.249.978 đồng nhưng không trả cho nguyên đơn. Thời điểm nguyên đơn có đơn khởi kiện cho đến khi Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết trong thời gian khá dài nhưng bị đơn không trả tiền cho nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi suất là có căn cứ. Tuy nhiên, về thời gian tính lãi chỉ được tính từ ngày nguyên đơn có yêu cầu tính lãi (09/9/2025) cho đến thời điểm xét xử sơ thẩm (30/9/2025) với mức 10%/năm do thời điểm khởi kiện nguyên đơn xác định không yêu cầu tính lãi. Theo đó, tiền lãi được tính là: 10%/năm x 2.726.249.978 đồng x 21 ngày = 15.903.125 đồng. Sau thời điểm xét xử sơ thẩm đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền bị đơn còn phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn tiền lãi chậm trả theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Tòa án cấp sơ thẩm xác định nguyên đơn không có thông báo yêu cầu bị đơn trả nợ nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về phần tiền lãi là chưa phù hợp theo phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm về phần này.

[5] Xét kháng cáo của nguyên đơn về việc buộc bà Đoàn Kim H liên đới trả nợ chung vợ chồng với ông T1: giữa các bên không xác lập hợp đồng vay tài sản, bị đơn là nhân viên ngân hàng, giao dịch giữa nguyên đơn với bị đơn đều thực hiện thông qua tài khoản của bị đơn nhằm thực hiện các giao dịch vay đáo hạn ngân hàng cho các khách hàng có nhu cầu, không liên quan đến bà H; không có căn cứ xác định việc bị đơn thực hiện các giao dịch vay tiền từ nguyên đơn nhằm mục đích đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của gia đình theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, không có không có căn cứ buộc bà H có nghĩa vụ liên đới trả nợ cùng với ông T1. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về phần này là có căn cứ.

[6] Từ các phân tích trên xét thấy, có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử sửa một phần bản án sơ thẩm về phần tiền lãi.

[7] Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sửa một phần bản án sơ thẩm về phần tiền lãi chậm trả là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Về án phí dân sự phúc thẩm: do sửa bản án sơ thẩm nên nguyên đơn không phải chịu.

Tải bản án: Bản án số: 848/2026/DS-PT Ngày 29-4-2026 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

Liên hệ ngay với chúng tôi nếu bạn đang cần hỗ trợ pháp lý, hãy liên hệ ngay với Công ty Luật Việt Nguyên ngay bây giờ để được tư vấn và giải quyết vướng mắc pháp lý  cách chuyên nghiệp và hiệu quả nhất. Chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và cung cấp cho bạn những giải pháp, pháp lý tốt nhất để đảm bảo quyền lợi của bạn.

Kết nối với Việt Nguyên – An tâm vững bước
Liên hệ ngay để được tư vấn 1:1 cùng chuyên gia:

📞 Hotline: 0936.39.29.79 – 0937.67.69.69

📍 Trụ sở chính: Số 41 Cách Mạng Tháng Tám, phường Long Khánh, T. Đồng Nai.

📍 Chi nhánh: Số 23 Nguyễn Du, P. Trấn Biên, T. Đồng Nai.

📘 Facebook: Công ty Luật Việt Nguyên

🌐 web: https://luatsudongnai.org/

✉️ Email: luatsutrangiap@gmail.com | 💬 Zalo: 0937.67.69.69 – 0936.39.29.79

Việt Nguyên – Nơi công lý được hiện thực hóa bằng tâm huyết và tri thức!